Một bước đầu xin chuộc tội

Ngô Nhân Dụng

 

Trong B́nh Ngô Đại Cáo do Nguyễn Trăi viết (Lê Thái Tổ ban bố, 1428) có câu “Vân Nam binh vị ngă quân sở ách ư Lê Hoa.” Bản dịch quen thuộc trong Việt Nam Sử Lược viết, “Binh Vân Nam nghẽn ở Lê Hoa” - tiếp, “sợ mà mất mật; Quân Mộc Thạnh tan chưng Cần Trạm, chạy để thoát thân!”

 

Lê Hoa là cửa ải thuộc nước ta vào thế kỷ 15. Đại Việt Thông Sử của Lê Quư Đôn chép, khi nhà Minh sai Mộc Thạnh đem quân từ Vân Nam sang tiếp viện cho quân Trung Quốc bị vây ở Đông Quan (Hà Nội) th́ B́nh Định Vương Lê Lợi điều động Phạm Văn Xảo và Trịnh Khả đem quân lên Ải Lê Hoa ngăn chặn. Sau khi Liễu Thăng chết ở Chi Lăng, quân Mộc Thạnh tự rút, bị quân ta đuổi đánh tan tác ở Lê Hoa.

 

Có ai biết Ải Lê Hoa hiện nay ở đâu? Nếu coi bản đồ Trung Quốc bây giờ, chúng ta sẽ thấy tên Lê Hoa nằm trong tỉnh Vân Nam. Chắc các sử gia sau này có thể t́m hiểu nguyên do v́ sao một cửa ải của nước Việt Nam, địa danh ghi trong B́nh Ngô Đại Cáo, lại chạy sang bên Tầu! Người Trung Quốc đă chiếm cửa ải đó từ bao giờ?

 

Cũng vậy, trong cuốn “Nhật Kư Trên Biên Giới Việt Trung” của bác sĩ người Pháp P. Neis có ghi chép và chụp h́nh các địa điểm ở vùng Ải Nam Quan, khi phái đoàn Pháp, đi thương thuyết với chính quyền nhà Thanh Trung Quốc về biên giới, trong những năm 1885-1887 (lúc đó Pháp đang đô hộ nước ta). Nhiều địa điểm ghi trong cuốn sách trên bây giờ cũng thuộc khu tự trị Quảng Tây, Trung Quốc.

 

Nước mạnh nuốt nước yếu, hàng xóm lớn ép nhỏ, gậm nhấm từng miếng đất một, thế kỷ này qua thế kỷ khác.

 

Nhưng chưa bao giờ nước Việt Nam lại để mất những vùng hải đảo rộng lớn, bị cướp ngay trước mắt, và do một chính quyền người Việt đang cai trị một nửa nước Việt t́nh nguyện hiến dâng. Đó là chủ quyền trên những ḥn đảo ở Trường Sa và Hoàng Sa đă bị Trung Quốc cướp.

 

Người Việt sẽ không bao giờ công nhận việc Trung Quốc chiếm đóng các ḥn đảo mà tổ tiên đă khai phá, sử dụng, ǵn giữ từ nhiều thế kỷ trước. Hiện nay chúng ta không thể đưa vụ cướp đất này ra Ṭa Án La Haye v́ ṭa án quốc tế chỉ xét xử các vụ tranh chấp khi nào chính phủ 2 quốc gia liên hệ đồng ư ra ṭa. Chính phủ cộng sản ở Việt Nam chưa bao giờ tỏ ư muốn nhờ ṭa án quốc tế xử vụ này, mà chính phủ Cộng Sản Trung Quốc th́ chắc chắn không muốn. Họ đă chiếm các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, không muốn ai đụng tới. Việt Nam hiện nay cũng không đủ binh lực để đánh bại Trung Quốc ở Hoàng Sa, Trường Sa, cho nên không ai bàn tới một kế hoạch tái chiếm. Chỉ có một cách là đồng bào ta ở khắp nơi phải biểu t́nh phản đối và hô hào cả thế giới tẩy chay Trung Quốc về mọi phương diện, bất cứ ở chỗ nào, như người dân Tây Tạng vẫn làm. Người Tây Tạng đă tranh đấu như vậy từ nửa thế kỷ nay không nghỉ, họ chưa đạt được kết quả cụ thể nào, nhưng họ không bao giờ để cho chính quyền Cộng Sản Trung Quốc được yên thân khi c̣n tiếp tục chiếm đóng đất nước của họ.

 

Nhưng chính quyền cộng sản Việt Nam phải chịu trách nhiệm về việc để mất các ḥn đảo ở Hoàng Sa, Trường Sa. Nếu có can đảm, các người lănh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam phải đứng ra công khai phản đối chính quyền Trung Quốc và dùng các biện pháp cứng rắn hơn trong các mối liên hệ giữa hai nước, từ các việc hợp tác kinh tế đến trao đổi thương mại. Trung Quốc hiện đang cần thị trường và nguyên liệu của Đông Nam Á, để bành trường ảnh hưởng kinh tế. Việt Nam là nước đông dân nhất trong khối ASEAN, nếu chính quyền Việt Nam dám phản đối Trung Quốc th́ các nước Đông Nam Á sẽ phải ủng hộ. Phải tạo áp lực hết năm này sang năm khác, như người Tây Tạng lưu vong vẫn đang làm!

 

Nhưng điều đầu tiên mà chính quyền Cộng Sản Việt Nam phải làm là chính thức phủ nhận lá thư của ông Phạm Văn Đồng gửi ông Chu Ân Lai vào năm 1958, trong đó ông Đồng nhân danh thủ tướng nước Việt Nam tỏ ư tán thành bản tuyên bố về lănh hải của Trung Quốc. Bộ Ngoại Giao Trung Quốc luôn luôn luôn vin vào lá thư này để biện minh với dư luận thế giới về chủ quyền của họ trên Hoàng Sa và Trường Sa.

 

Trong mạng lưới của Bộ Ngoại Giao Trung Quốc, như vào ngày 17 Tháng Mười Một năm 2000, họ nêu lên những chứng cớ về chủ quyền của họ trên các quần đảo này (www.fmprc.gov.cn/eng/). Ngoài việc viễn dẫn các lời tuyên bố của các chính khách Anh, Nhật Bản, các văn bản sai lầm của Pháp, tài liệu của Bộ Ngoại Giao Trung Quốc dành một đoạn dài nêu lên các bằng cớ do Cộng Sản Việt Nam tạo ra cho họ.

 

Chứng cớ đầu tiên là vào Tháng Sáu năm 1956, Thứ Trưởng Ngoại Giao Việt Nam (Hà Nội) Ung Văn Khiêm đă nói với người xử lư thường vụ Ṭa Đại Sứ Trung Quốc ở Hà Nội, Li Zhimin, rằng, “theo các tài liệu của Việt Nam th́ các quần đảo Tây Sa (ta gọi là Hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa) theo lịch sử là thuộc lănh thổ Trung Quốc.” Ông Lê Đốc, đứng đầu phân vụ Á Châu của Bộ Ngoại Giao Hà Nội có mặt lúc đó c̣n nói thêm rằng theo lịch sử các đảo trên đă thuộc Trung Quốc “từ đời nhà Tống” (Thế kỷ 10 tới 13)!

 

Chứng cớ hiển nhiên hơn, theo Bộ Ngoại Giao Trung Quốc, là tờ nhật báo Nhân Dân ở Hà Nội, ngày 6 Tháng Chín năm 1956 đă đăng một bài đầy đủ chi tiết cả bản tuyên bố của chính phủ Trung Quốc phát hành 2 ngày trước đó. Khi cơ quan chính thức của đảng Cộng Sản Việt Nam đăng bài này, tức là họ đă công nhận các ư kiến của Trung Quốc. Lúc đó Hà Nội đang lo dập tắt các nhóm trí thức và văn nghệ đ̣i tự do ngôn luận Nhân Văn Giai Phẩm, đang chịu đựng các hậu quả thảm khốc của vụ Cải Cách Ruộng Đất, và chuẩn bị việc xâm lăng miền Nam. Bản tuyên bố được báo Nhân Dân đăng lên nói rơ ràng là lănh hải Trung Quốc bao gồm cả các quần đảo trong biển Nam Hải. Thời gian này cũng là lúc Trung Quốc đang gây căng thẳng ở vùng eo biển Đài Loan (nhưng không bao giờ họ tiến quân đánh Đài Loan). Ngày 14 Tháng Chín ông Phạm Văn Đồng gửi lá thư chính thức “tán thành” quan điểm của Trung Quốc về lănh hải.

 

Bằng cớ thứ ba mà Bộ Ngoại Giao Trung Quốc nêu lên là các sách giáo khoa môn Địa Lư do nhà nước Cộng Sản Việt Nam in năm 1974, viết rằng các “ḥn đảo từ quần đảo Nam Sa, Tây Sa, qua Hải Nam, Đài Loan, là một bức trường thành bảo vệ Trung Quốc.”

 

Những điều trên viết trên mạng lưới của Bộ Ngoại Giao Trung Quốc chỉ lập lại những điều đă được đăng trong Bắc Kinh Chu Báo (China Review) ra ngày 18 Tháng Hai năm 1980, trong đó c̣n nhiều chi tiết khác kể cả h́nh lá thư ô nhục của Phạm Văn Đồng.

 

Trong tuần báo Far Eastern Economic Review xuất bản ở Hồng Kông ngày 16 Tháng Ba năm 1979, ông Lư Tiên Niệm, phó thủ tướng Trung Quốc đă khẳng định rằng các người lănh đạo Cộng Sản Việt Nam đă nhường các quần đảo cho Trung Quốc. Lúc đó Trung Quốc mới đem quân san thành b́nh địa các thành phố Việt Nam ở biên giới. Một điều đáng chú ư là cũng trong thời gian này, chính phủ Trung Quốc tỏ ra thân thiện với Mă Lai Á và Phi Luật Tân. Trung Quốc cho biết họ sẵn sàng thảo luận với hai quốc gia này về các vụ tranh chấp chủ quyền trong các đảo Hoàng Sa và Trường Sa; nhưng Bắc Kinh tuyệt đối không nhắc nhở ǵ tới Việt Nam!

 

Một kư giả báo Far Eastern Economic Review, ông Frank Ching viết trên báo này, ngày 10 Tháng Hai năm 1994 một bài kiểm điểm lại vụ Hoàng Sa và Trường Sa. Ông Chinh mỉa mai rằng Hồ Chí Minh và Cộng Sản Việt Nam đă “bán” (sell trong nguyên văn) các ḥn đảo này cho Cộng Sản Trung Quốc v́ họ cần Trung Quốc giúp trong việc xâm chiếm miền Nam. Frank Ching viết, “V́ nóng ḷng muốn gây ra một cuộc chiến tranh tàn hại cả hai miền Nam, Bắc; và muốn đóng góp vào sự nghiệp cộng sản quốc tế, Hồ Chí Minh đă hứa hẹn, một cách mất phẩm giá (did promise, without dignity) cho Trung Quốc chiếm lấy một phần đất trong tương lai, trong lúc chưa biết rằng có nuốt được miền Nam hay không!” Trong bài báo năm 1994, Frank Ching cũng nhắc lại việc hải quân Việt Nam Cộng Ḥa đă tử chiến bảo vệ Hoàng Sa năm 1974; và mỉa mai rằng trong thời chiến tranh Cộng Sản miền Bắc luôn miệng chỉ trích các chính phủ miền Nam là tay sai Mỹ, bán nước. “Bây giờ, 20 năm sau, chúng ta thấy rơ trong lúc đó chính quyền Sài G̣n đứng lên bảo vệ quyền lợi nước Việt Nam một cách mạnh mẽ hơn chính quyền ở Hà Nội!”

 

Về phía Cộng Sản Việt Nam, vào năm 1979 sau khi bị Trung Quốc “dậy một bài học” Phạm Văn Đồng đă lên tiếng biện hộ cho ḿnh, nói rằng lá thư “tán thành” của ông được kư trong lúc đang chiến tranh, “Hai nước Việt Trung rất thân thiết và tin tưởng nhau. Trung Quốc đang giúp Việt Nam hết sức. Trong hoàn cảnh đó, lănh đạo Việt Nam ủng hộ lập trường Trung Quốc là điều cần thiết.” Ông Đồng c̣n nói rằng việc ông tán thành lập trường Trung Quốc là “để chiến đấu cho độc lập và tự do của tổ quốc(!)”(Far Eastern Economic Review, 16 March 1979). Ông Nguyễn Mạnh Cầm, ngoại trưởng Việt Nam cũng lập lại lư luận của Phạm Văn Đồng, rằng việc công nhận quan điểm của Trung Quốc là do t́nh thế bắt buộc! Nói như vậy bịp được dân trong nước, nhưng không thể dùng trong việc bang giao được!

 

Người Việt chúng ta biết, Cộng Sản kư các hiệp định quốc tế, ở Genève (1954), ở Paris 1972, trong lúc đặt bút kư đă tính mưu sau này sẽ xóa bỏ chữ kư. Nhưng chữ kư của Phạm Văn Đồng gửi cho Chu Ân Lai c̣n dính măi, không xóa được! Frank Ching, trong bài báo nêu trên, viết “một lá thư ngoại giao... không dễ đem tẩy xóa, khi một nước nhỏ như Việt Nam lại tính bầy tṛ lừa bịp (một nước lớn như) Trung Quốc.”

Cộng Sản Việt Nam đă bán các ḥn đảo của tổ tiên để đổi lấy súng đạn đi giết đồng bào miền Nam, lấy cớ đuổi Mỹ nhưng nay lại bám lấy tư bản Mỹ để tự biến ḿnh thành tư bản. Hăy can đảm xóa bỏ lỗi lầm cũ bằng cách phủ nhận lá thư của Phạm Văn Đồng. Hăy lư luận rằng trong thời gian 1956 các đảo ở Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền chính phủ Việt Nam Cộng Ḥa, v́ nằm dưới vĩ tuyến 17, không thuộc thế giới cộng sản. Cho nên lá thư của ông Phạm Văn Đồng viết đă nhường một phần đất ngoài thẩm quyền của ông ta! Các ông Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng đă bán những thứ không thuộc quyền của ḿnh, hệ quả là những lời nói và chữ kư đó không có giá trị nào cả! Đây là một bước đầu để xin chuộc tội với dân tộc!