NGÀY HOÀNG SA

Luật Sư Nguyễn Hữu Thống

(Bài Thuyết trình tại California ngày19-1-2008)

 

 

 

     Hôm nay chúng ta tập hợp nơi đây để kỷ niệm trận Hải Chiến Hoàng Sa ngày 19-1-1974. Trước đó một năm,  tháng 1-1973, hai nước Việt Nam Cộng Hòa và Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã ký Hiệp Định Hòa Bình Paris với sự tham dự và bảo lãnh của 14 quốc gia trên thế giới trong đó có Hoa Kỳ và Trung Quốc. Các quốc gia kết ước và bảo lãnh cam kết tôn trọng quyền dân tộc tự quyết của nhân dân Việt Nam và không xâm phạm chủ quyền lãnh thổ của quốc gia Việt Nam.

     Vậy mà, một năm sau, khi Hiệp Định Paris còn chưa ráo mực, bỗng dưng vô cớ, ngày 19-1-1974 Trung Quốc đem quân xâm chiếm 6 đảo Hoàng Sa thuộc Nhóm Lưỡi Liềm (Nguyệt Thiềm) phía Tây Nam.

     Sau Thế Chiến II, tháng 8-1945 khi Nhật Bản đầu hàng đồng minh, quân đội Trung Hoa kéo sang giải giới quân đội Nhật và đã thừa cơ chiếm 7 đảo Hoàng Sa thuộc nhóm An Vĩnh (Tuyên Đức) phía Đông Bắc.

     Trong trận Hải Chiến Hoàng Sa, Hải             Quân Việt Nam Cộng Hòa đã anh dũng chiến đấu để bảo vệ chủ quyền lãnh hải. 58 chiến sĩ đã hy sinh trong đó có Trung Tá Ngụy Văn Thà là người đã từ chối di tản để ở lại tuẫn tiết cùng chiến hạm theo truyền thống hào hùng của hải quân.

     14 năm sau, tháng 3-1988, bỗng dưng vô cớ, Trung Quốc lại đem quân xâm lăng vùng biển Trường Sa và đã chiếm 2 đá nổi và 6 đá chìm.

     Trong trận Hải Chiến Trường Sa, 74 chiến sĩ hải quân Việt Nam đã bỏ mình vì tổ quốc. Lúc này, vì Liên Xô còn có mặt tại Cam Ranh và Hoa Kỳ còn đóng quân tại Subic Bay (Phi Luật Tân), nên Trung Quốc không dám thừa thắng xông lên để chiếm cứ tất cả những đảo, cồn, đá, bãi củaViệt Nam tại Trường Sa.

     Vả lại Trung Quốc cũng không dám cạn tàu ráo máng. Vì còn muốn lưu giữ chút nhân tình để hy vọng thực thi kế hoạch đánh cá chung và khai thác dầu  khí chung tại vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa (riêng) của Việt Nam.

     Trước đó, ngay từ 1946 Trung Quốc đã đặt tên vùng Biển Nam Hải là Đặc Khu Hành Chánh Hải Nam. Qua năm 1947 lại đổi tên Hoàng Sa thành Tây Sa và Trường Sa thành Nam Sa.

     Mới đây Trung Quốc loan báo thành lập Huyện Tam Sa tại đảo Hải Nam để quản lý hành chánh các đảo Đông Sa, Tây Sa (chỉ Hoàng Sa) và Nam Sa (chỉ Trường Sa).

     Đây chỉ là một chiến dịch hỏa mù. Vì từ 1946, như đã trình bày, Trung Hoa đã thành lập Đặc Khu Hành Chánh Hải Nam nói là để quản trị toàn thể vùng Biển Nam Hải từ Việt Nam qua Nam Dương, Mã Lai, Brunei và Phi Luật Tân. Chúng ta sẽ trở lại vấn đề này.

 

I. CÔNG ƯỚC LIÊN HIỆP QUỐC VỀ LUẬT BIỂN 1982

 

     Trong thập niên 1960 cuộc Cách Mạng Văn Hóa đã phá nát Trung Hoa về văn hóa, đạo lý, kinh tế và nhân sự.

     Qua thập niên 1970, Trung Hoa bắt đầu phục hồi. Được gia nhập Liên Hiệp Quốc thay thế Đài Loan năm 1971, Trung Hoa nghiễm nhiên trở thành một ngũ cường, hội viên thường trực của Hội Đồng Bảo An có quyền phủ quyết. Sau cái chết của Mao Trạch Đông năm 1976, và với sự thiết lập bang giao với Hoa Kỳ năm 1979, Trung Hoa hội nhập vào cộng đồng thế giới. Từ đó, về mặt kinh tế, với chính sách “mèo đen mèo trắng”, Đặng Tiểu Bình đã từ bỏ xã hội chủ nghĩa để theo chủ nghĩa thực dụng.            

     Năm l982 phái đoàn Trung Hoa đến Montego Bay, Jamaica tham dự Đại Hội Liên Hiệp Quốc Kỳ 3 về Luật Biển. Vì Anh, Mỹ không ký Công Ước, 3 ngũ cường còn lại Nga-Pháp-Hoa đóng vai chủ chốt. (Lý do là vì Anh-Mỹ chưa thỏa mãn về quy chế khai thác khoáng sản tại biển sâu: deep seabed mining). Tự ái quốc gia được thỏa mãn, Trung Hoa hoan hỉ ký Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982.

     Ký xong, Bắc Kinh mới thấy lo! Ký Công Ước thì phải theo Công Ước. Những điều khoản trong Công Ước đã quá rõ rệt: Các quốc gia duyên hải chỉ được hưởng quy chế 200 hải lý vùng Đặc Quyền Kinh Tế đánh cá từ bờ biển. Vùng này trùng điệp với Thềm Lục Địa 200 hải lý để khai thác dầu khí.

     Trong khi đó, Hoàng Sa cách bờ Biển Trung Hoa tới 270 hải lý và Trường Sa cách Hoa Lục hơn 750 hải lý. Do đó Hoàng Sa và Trường Sa không thuộc chủ quyền lãnh hải của Trung Hoa.

 

     Chiếu Công Ước về Luật Biển 1982, các quốc gia duyên hải có chủ quyền lãnh hải tại:

- Biển Lãnh Thổ (Territorial Sea) dài 12 hải lý (22km) chạy từ đường căn bản ra khơi. Đường căn bản (baseline) là lằn mức thủy triều xuống thấp. Tại biển lãnh thổ các tàu ngoại quốc được quyền thông quá vô tư trong vòng hòa bình và phải tôn trọng an ninh trật tự của quốc gia duyên hải.

- Vùng Đặc Quyền Kinh Tế 200 hải lý (370 km) để đánh cá tính từ đường căn bản (Exclusive Economic Zone, 200-mile fishery zone). Tại vùng này các quốc gia duyên hải có đặc quyền đánh cá, nhưng cũng có nghĩa vụ phải bảo tồn ngư sinh, và nếu cần, chia sẻ phần tôm cá không khai thác hết cho các quốc gia kế cận không có bờ biển (như Ai Lao).

- Thềm Lục Địa (Continental Shelf) để khai thác dầu khí cũng dài 200 hải lý và trùng điệp với Vùng Đặc Quyền Kinh Tế đánh cá.

     Khác với vùng đặc quyền kinh tế đánh cá, chiếu Điều 77 Luật Biển, Thềm Lục Địa thuộc chủ quyền tuyệt đối của quốc gia duyên hải trong việc khai thác dầu khí.

     Quyền này không tùy thuộc vào điều kiện chiếm cứ (occupation) hay công bố (proclamation). Do đó việc Trung Quốc chiếm cứ một số đảo cồn đá bãi tại Hoàng Sa và Trường Sa không có tác dụng tước đọat chủ quyền của Việt Nam và Phi Luật Tân tại các Thềm Lục Địa của hai quốc gia này. Vì có chủ quyền tuyệt đối, các quốc gia duyên hải không cần phải chiếm cứ hay công bố chủ quyền. Chỉ cần nạp họa đồ đường căn bản để định ranh thềm lục địa.

     Ngoài ra, chiếu Điều 76 Luật Biển, các quốc gia duyên hải có quyền mở rộng Thềm Lục Địa Pháp Lý 200 hải lý thành Thềm Lục Địa Địa Lý (hay Nền Lục Địa: Continental Margin) dài tới 350 hải lý (648km), nếu về mặt địa hình, đáy biển là sự tiếp nối tự nhiên của thềm lục địa từ đất liền ra ngoài biển (như trường hợp Việt Nam).

     Như vậy: Các đảo Hoàng Sa thuộc Thềm Lục Địa 200 hải lý của Việt Nam. Từ Quảng Ngãi  ra đảo Trí Tôn chỉ có 123 hải lý, và ra đảo Hoàng Sa chỉ có 160 hải lý. Trong khi đó Hoàng Sa cách Lục Địa Trung Hoa hơn 270 hải lý nên không thuộc thềm lục địa của Trung Hoa.

     Hơn nữa, về mặt địa hình đáy biển, độ sâu nhất tại Hoàng Sa là 900m. Đây là những hải đảo hay bình nguyên của Thềm Lục Địa Việt Nam trên mặt biển. Nếu nước biển rút xuống khoảng 900m thì đáy biển Hoàng Sa sẽ biến thành một hành lang chạy thoai thoải từ dãy Trường Sơn ra các đảo Trí Tôn, Hoàng Sa và Phú Lâm.

     Trong khi đó từ Hoàng Sa về Lục Địa Trung Hoa phải qua một rãnh biển sâu tới 2,500m. Như vậy các đảo Hoàng Sa không phải là sự tiếp nối tự nhiên của Thềm Lục Địa Trung Hoa từ đất liền ra ngoài biển.

     Tại Trường Sa cũng vậy. Tại bãi dầu khí Thanh Long-Tứ Chính biển sâu không tới 400m, và trong vùng Đảo Trường Sa (do Việt Nam chiếm cứ) độ sâu chỉ tới 200m. Bãi Tứ Chính cách bờ biển Việt Nam khoảng 190 hải lý nên thuộc Thềm Lục Địa Việt Nam. Trong khi đó Trường Sa cách Lục Địa Trung Hoa tới 750 hải lý. Hơn nữa từ Trường Sa về Lục Địa Trung Hoa phải qua một rãnh biển sâu tới 4,600m. Vì đáy biển không phải là sự tiếp nối tự nhiên của thềm lục địa từ đất liền ra ngoài biển nên Trung Hoa không thể xin mở rộng thềm lục địa qua mức 200 hải lý.

     Như vậy, về mặt pháp lý,  theo Tòa Án Quốc Tế và Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa về phía Tây Biển Đông Nam Á thuộc chủ quyền lãnh hải của Việt Nam.

 

II. BIỂN LỊCH SỬ HAY LƯỠI RỒNG TRUNG QUỐC

 

     Đuối lý về mặt luật pháp, Trung Quốc tung ra chiến dịch hỏa mù với huyền thoại Biển Lịch Sử Trung Hoa mệnh danh là Lưỡi Rồng Trung Quốc.

     Từ 1983 Bắc Kinh tập hợp 400 học giả Trung Quốc ngày đêm nghiên cứu thảo luận trong 10 năm để kết luận rằng Nam Hải là Biển Lịch Sử của Trung Hoa. Rồi họ hội nghị với 100 học giả Đài Loan để xác nhận điều này.

     Lưỡi Rồng Trung Quốc không chỉ bao gồm các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa về phía Việt Nam. Đây là cả một vùng biển bao la chạy từ Việt Nam qua Nam Dương, Mã Lai, Brunei và Phi Luật Tân. Theo ngoa ngôn của Bắc Kinh, Biển Lịch Sử Trung Hoa hay Lưỡi Rồng Trung Quốc có vùng lãnh hải rộng bằng phân nửa Lục Địa Trung Hoa.

     Lưỡi Rồng Trung Quốc nằm sát bờ biển Việt Nam, cách Quảng Ngãi 40 hải lý, cách Natuna (Nam Dương) 30 hải lý, cách Sarawak (Mã Lai), Brunei và Palawan (Phi Luật Tân) 25 hải lý. Nó chiếm trọn 3 túi dầu khí đang khai thác là Bãi Tứ Chính (Vanguard) của Việt Nam, Bãi Natuna của Nam Dương và Bãi Cỏ Rong (Reed Bank) của Phi Luật Tân. Nó chiếm hơn 80% Biển Đông Nam Á.

     Năm 1992, Trung Hoa vẽ lại bản đồ và đòi chủ quyền lãnh hải toàn vùng biển Đông Nam Á. Họ coi biển Đông Nam Á (hay Nam Hải) là biển lịch sử của họ.  Cũng như hơn 2000 năm trước đây, Đế Quốc La Mã gọi Địa Trung Hải là “biển của chúng tôi” (mare nostrum).

     Địa Trung Hải là một biển rất lớn chạy từ bờ biển Tây Ban Nha qua Pháp, Ý, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, Do Thái đến Ai Cập và toàn vùng biển Bắc Phi. Nó rộng gấp mấy chục lần bán đảo Ý Đại Lợi nơi Đế Quốc La Mã đặt thủ đô.

     Về yêu sách Biển Lịch Sử của Trung Quốc, các luật gia tại Viện Hải Học Đông Tây Hawaii phải kêu lên rằng: “Không có nguyên tắc pháp lý hay điều khoản nào trong Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển cho phép Bắc Kinh đòi như vậy!”

     Thật vậy, ngày nay về mặt pháp lý, Luật Biển và Tòa Án Quốc Tế đã bác bỏ thuyết Biển Lịch Sử hay Lưỡi Rồng Trung Quốc của Bắc Kinh.

     Theo Tòa Án Quốc Tế, Biển Lịch Sử chỉ là Nội Hải. 

     Theo Điều 8 Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển:  “Biển Lịch Sử hay nội hải của một quốc gia, nằm trong đất liền, về phía bên trong đường căn bản của Biển Lãnh Thổ.” (The International Court of Justice has defined historic waters as internal waters. Waters on the landward side of the baseline of the territorial sea form part of the internal waters of the State: Article 8 LOS CONVENTION l982).

     Như vậy, nếu Địa Trung Hải không phải là Biển Lịch Sử của Đế Quốc La Mã, thì Biển Nam Hoa cũng không phải là Biển Lịch Sử của Đế Quốc Trung Hoa. Cả hai đều là ngoại hải, và cách La Mã và Lục Địa Trung Hoa hàng ngàn cây số.

     Và công trình 10 năm nghiên cứu của 500 học giả Trung Hoa chỉ là công “dã tràng xe cát Biển Đông, nhọc nhằn mà chẳng nên công cán gì!”

 

III. THUYẾT THỦ ĐẮC CHỦ QUYỀN

 

     Đuối lý về mặt pháp lý và thất bại trong thuyết Biển Lịch Sử, Trung Quốc đưa ra thuyết Thủ Đắc Chủ Quyền, thủ đắc do khám phá và thủ đắc do chiếm cứ.

1)  Thủ đắc do khám phá (discovery)

     Theo Bắc Kinh, từ trên 2000 năm nay, dưới đời Hán Vũ Đế (Thế Kỷ thứ 2 trước Công Nguyên), 100 ngàn hải quân Trung Hoa tuần hành tại Nam Hải đã khám phá các hải đảo Trường Sa và Hoàng Sa.

     Và trong Thế Kỷ 15, dưới đời Minh Thành Tổ, hải quân Trung Hoa đã đi tuần thám từ Biển Nam Hải đến Ấn Độ Dương để tuyên dương công đức vua nhà Minh. Do sự khám phá này Trung Quốc đã thủ đắc chủ quyền về các hải đảo này.

     Sự kiện này không thể kiểm chứng được.

     Trước hết không có tài liệu khách quan nào cho biết có sự tuần thám của hải quân Trung Hoa tại các đảo san hô tí hon tại Nam Hải.

     Lịch sử chỉ thấy ghi 100 ngàn quân của Tào Tháo mượn lệnh Hán Đế đi xâm chiếm Đông Ngô và đã bị Chu Du đánh tan trong trận Hải Chiến Xích Bích.

     Và dưới đời Minh Thành Tổ, các đội hải quân yểm trợ và tiếp viện cho Vương Thông đã bị Lê Lợi đánh tan trong vùng sông biển Việt Nam. Lịch sử chép rằng, sau những thất bại liên tiếp tại Đông Quan, Vương Thông đã hai lần xin hòa, rồi rút toàn bộ hải quân  lục quân  về Tàu.

     Trong Bình Ngô Đại Cáo, Nguyễn Trãi viết: “Hai mặt cứu binh, cắm đầu chạy trốn, các thành cùng khấu, cởi giáp quy hàng. Bắt tướng mang về, nó xin phục tội. Thể theo lòng Trời bất sát, ta cũng mở đường hiếu sinh. Cấp cho Mã Kỳ, Phương Chính 500 chiếc thuyền, ra đến Biển Đông chưa thôi trống ngực; phát vài ngàn cỗ ngựa cho Vương Thông, Mã Anh, về đến đất Tàu còn đổ mồ hôi. Nó đã sợ chết cầu hòa, ngỏ lời thú phục, ta muốn toàn quân là cốt, cả nước nghỉ ngơi. Giang sơn từ đây mở mặt, xã tắc từ đây vững bền. Nhật nguyệt hối mà lại minh, càn khôn bĩ mà lại thái. Là nhờ Trời Đất Tổ Tông khôn thiêng che chở giúp đỡ nước ta vậy....”

     Những chiến thắng của Lê Lợi cho biết, đời Minh Thành Tổ, những đoàn hải quân Trung Hoa tuần thám tại Nam Hải chỉ nhằm thôn tính Việt Nam và Chiêm Thành. Chứ không phải để thám sát và khám phá các đảo san hô tại Biển Đông.

     Vả lại kẻ khám phá không nhất thiết là kẻ sở hữu.

     Từ 1969, Hoa Kỳ đã khám phá mặt trăng, treo cờ, lấy đá, chạy xe thử nghiệm và chiếm cứ tượng trưng nhiều lần. Nhưng không phải vì các hành động này mà Hoa Kỳ có thể tuyên bố “mặt trăng thuộc chủ quyền không gian của Hoa Kỳ”.

     Cũng trong Thế Kỷ 15, các nhà thám hiểm hàng hải quốc tế như Christopher Columbus đã khám phá Mỹ Châu; Vasco de Gama đã khám phá Mũi Hảo Vọng tại Phi Châu và các hoang đảo tại Ấn Độ Dương; Magellan đã đi xuyên dương, từ Đại Tây Dương vượt Ấn Độ Dương qua Thái Bình Dương, khám phá quần đảo Phi Luật Tân và hải đảo Guam. Vậy mà Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha cũng không đòi chủ quyền các lục địa, hải đảo và quần đảo này.

 

2)  Thủ đắc do chiếm cứ (occupation)

     Theo Công Pháp Quốc Tế, muốn thủ đắc chủ quyền các đất vô chủ (terra nullius), sự chiếm cứ phải có những đặc tính sau đây:

a)  Chiếm cứ hòa bình

     Không có sự chối cãi rằng, trong những năm 1974 và 1988, Trung Hoa đã dùng võ lực chiếm cứ một số hải đảo Hoàng Sa thuộc nhóm Lưỡi Liềm và một số đá bãi tại Trường Sa.

     Sự chiếm cứ không có tính hòa bình mà do xâm lăng võ trang. Sự chiếm cứ bằng bạo hành không được luật pháp bảo vệ. Cũng như thời Đệ Nhị Thế Chiến, Nhật Bản đã chiếm cứ Hoàng Sa và Trường Sa bằng võ lực nên không có tư cách chủ quyền hợp pháp.

b)  Chiếm cứ liên tục và trường kỳ

     Trung Hoa không mang lại bằng chứng nào cho biết họ đã liên tục chiếm cứ Hoàng Sa, Trường Sa từ đời Nhà Hán hay ít nhất từ đời Nhà Thanh.

     Sau Thế Chiến II, khi quân đội Nhật Bản rút lui vào cuối năm 1945, Trung Hoa mới chiếm một số đảo Hoàng Sa thuộc nhóm An Vĩnh (Amphitrite) phía đông bắc.

     Năm 1974 họ đã xâm lăng võ trang để chiếm nốt các đảo Hoàng Sa thuộc Nhóm Lưỡi Liềm (Crescent) về phía tây nam.

     Tại Trường Sa, Trung Hoa thú nhận rằng, lần đầu tiên, năm l988, họ đã chiếm cứ một số đá bãi (bằng võ lực). Sự chiếm cứ này vô hiệu vì không có tính hòa bình. Vả lại tới 1974 và 1988, các đảo Hoàng Sa-Trường Sa đã do Việt Nam chiếm cứ, nên không thể coi đó là đất vô chủ (terra nullius).

c) Hơn nữa sự chiếm cứ không được thừa nhận bởi các quốc gia liên hệ.

      Năm l951, tại Hội Nghị Hòa Bình San Francisco, 51 quốc gia đồng minh ký Hiệp Ước Tái Thiết Nhật Bản, theo đó Nhật từ bỏ chủ quyền tại Hoàng Sa-Trường Sa, nhưng không nói để trả cho nước nào. Đại biểu Liên Xô yêu cầu Hội Nghị biểu quyết trả cho Trung Hoa. Nhưng Hội Nghị đã bác bỏ đề nghị này với 46 phiếu chống. Sau đó, Thủ Tướng Trần Văn Hữu, Trưởng Phái Đoàn Quốc Gia Việt Nam, lên diễn đàn minh thị công bố chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa-Trường Sa, và không gặp sự phản kháng nào. (Ngày 8-3-1949 Pháp đã ký Hiệp Định Élysée để trao trả chủ quyền độc lập và chủ quyền lãnh thổ cho Quốc Gia Việt Nam).

     Vả lại, sự thừa nhận chủ quyền hải đảo chỉ có nghĩa nếu xuất phát từ các quốc gia duyên hải đối diện hay tiếp cận. Vì Hoàng Sa, Trường Sa  tọa lạc tại Biển Đông Nam Á, nên chỉ các quốc gia Đông Nam Á mới có thẩm quyền thừa nhận. Mà cho đến nay tất cả các quốc gia Đông Nam Á không một nước nào thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc tại Hoàng Sa và Trường Sa.

           

IV. 10 TIÊU CHUẨN PHÂN RANH HẢI PHẬN

 

     Trong phạm vi điều giải và tố tụng, Ủy Ban Phân Ranh Thềm Lục Địa, Tòa Án  Trọng Tài về Luật Biển và Tòa Án Quốc Tế  đưa ra 10 tiêu chuẩn để giải quyết vấn đề phân ranh hải phận hay đồng hóa hải đảo vào lục địa của quốc gia duyên hải kế cận.

1) Vị trí của các đảo đối với bờ biển tiếp cận. Tại vùng quần đảo Hoàng Sa, đảo Hoàng Sa chỉ cách lục địa Việt Nam 160 hải lý, và cách Lục Địa Trung Hoa tới 270 hải lý. Tại bãi biển Trường Sa, bãi thanh Long, Tứ Chính chỉ cách bờ biển Việt Nam 190 hải lý, trong khi đảo Trường Sa cách Hoa Lục hơn 750 hải ly. Do đó Việt Nam có ưu thế vì Hoàng Sa Trường Sa tọa lạc tại thềm lục địa Việt Nam.

2) Diện tích các hải đảo so sánh với chiều dài bờ biển tiếp cận.  Đảo Trường Sa (0.13 km2), và Hoàng Sa (0.56km2) quá nhỏ bé chỉ bằng 1/1000 đảo Phú Quốc (568km2), nên được đồng hóa vào lục địa Việt Nam. Vả lại bờ biển Việt Nam dài hơn 10 lần bờ đảo Hải Nam phía tiếp giáp Hoàng Sa.

3) Về độ sâu và địa hình đáy biển, các đảo, cồn, đá, bãi Hoàng Sa và Trường Sa là sự tiếp nối tự nhiên của Thềm Lục Địa Việt Nam từ đất liền ra ngoài biển.  Độ sâu nhất tại Hoàng Sa là 900 m và tại Trường Sa là 400 m.  Trong khi đó, từ Hoàng Sa và Trường Sa về Hoa Lục có 2 rãnh biển sâu tới 2500 m và 4600 m.. Như vậy Hoàng Sa và Trường Sa không phải là sự tiếp nối tự nhiên của thềm lục địa Trung Hoa từ đất liền ra ngoài biển.

4) Tại Hoàng Sa, về mặt địa chất, năm 1925, sau 2 năm nghiên cứu, đo đạc và vẽ bản đồ, Tiến Sĩ Khoa Học A. Krempt, Giám Đốc Viện Hải Học Đông Dương, xác nhận rằng “về mặt địa chất, các đảo Hoàng Sa là thành phần của Việt Nam”. (Geologiquement les Paracels font partie du Vietnam). Một số học giả Pháp khác như Olivier Saix năm 1933, và Marcel Beauvois năm 1971, cũng xác nhận điều đó.

5) Về dân số, các hải đảo Hoàng Sa và Trường Sa quá nhỏ bé, không có thường dân cư ngụ và không thể tự túc về kinh tế. Trong khi đó số dân cư ngụ tại miền bờ biển Việt Nam đông gấp 10 lần số dân sinh sống tại đảo Hải Nam. Chiếu Điều 121 Luật Biển, Hoàng Sa Trường Sa không được hưởng quy chế 200 hải lý để đánh cá và khai thác dầu khí.

6)  Về khí hậu và sinh thực học,  tại Hoàng Sa và Trường Sa, các đảo san hô cũng như cây cỏ và sinh vật tiêu biểu cho vùng nhiệt đới Việt Nam, chứ không thấy ở vùng ôn đới Trung Hoa.

7) Về Khu Đặc Quyền Kinh Tế để đánh cá, Biển Đông với Hoàng Sa và Trường Sa là khu vực đánh cá căn bản của Việt Nam. Trong khi  đó, ngoài hải phận về phía Tây, Đảo Hải Nam còn được thêm 200 hải lý để đánh cá về phía Đông thông ra Thái Bình Dương. Vả lại Trung Hoa còn có biển Hoàng Hải và Đông Trung Quốc Hải thông ra Thái Bình Dương.

8)  Tại Thềm Lục Địa Việt Nam những vùng có nhiều dầu khí nằm tại giữa lòng biển Vịnh Bắc Việt và tại khu bãi Thanh Long-Tứ Chính phía Đông Nam Cà Mau.  Đây là nơi kết tầng các thủy tra thạch chứa đựng các chất hữu cơ do nước phù sa Sông Hồng Hà và Sông Cửu Long, con sông dài nhất Đông Nam Á, từ cao nguyên Tây Tạng đổ ra biển từ hàng triệu năm nay. Trong khi đó tại Biển Đông, không có con sông lớn nào từ lục địa Trung Hoa hay từ đảo Hải Nam chảy ra biển. Do đó dầu khí nếu có là do các chất hữu cơ từ lục địa Việt Nam chứ không phải từ Hoa Lục. Hơn nữa, ngoài hải phận về phía Tây,  Đảo Hải Nam còn được thêm 200 hải lý thềm lục địa để khai thác dầu khí về phía Đông thông ra Thái Bình Dương.

9)  Biển Đông với Hoàng Sa, Trường Sa có ảnh hưởng kinh tế, chiến lược và quốc phòng mật thiết với Việt Nam hơn là Trung Hoa. Vì Trung Hoa còn có biển Hoàng Hải và Đông Trung Quốc Hải chạy thông ra Thái Bình Dương.

10)  Các tài liệu, sách báo, họa đồ hay các chứng tích lịch sử phải có tính xác thực. Dầu sao các tài liệu này không có giá trị bằng các yếu tố khoa học như địa lý, địa hình, địa chất, dân số, khí hậu, sinh thực học, và những yếu tố đặc thù về kinh tế như đánh cá và khai thác dầu khí, cũng như các yếu tố về chiến lược và an ninh quốc phòng.

     Về điểm này chúng ta chỉ viện dẫn một vài tài liệu khách quan do chính người Trung Hoa biên soạn:

- Theo các học giả Trung Hoa, Biển Nam Hoa hay Nam Hải là tên biển của miền Hoa Nam, cách Quảng Đông 50 dặm về phía Nam. Các nhà thám hiểm và hàng hải Tây Phương muốn cho tiện nên gọi đó là Biển Nam Hoa (South China Sea). (Ngoại nhân xưng Nam Trung Quốc Hải).

- Theo cuốn Từ Điển Tối Tân Thực Dụng Hán Anh do các học giả Trung Hoa biên soạn tại Hồng Kông năm 1971 thì “Nam Hải là vùng biển kéo dài từ Eo Biển Đài Loan đến Quảng Đông”. (The Southern Sea stretching from the Taiwan Straits to Kwantung.)

- Theo Từ Điển Từ Hải xuất bản năm 1948 thì “Nam Hải thuộc chủ quyền lãnh hải của 5 nước là Trung Hoa, Việt Nam, Mã Lai, Phi Luật Tân và Đài Loan”.  (Đúng ra là Nam Dương, không phải Đài Loan).

     Như vậy nếu Ấn Độ Dương không phải là đại dương của Ấn Độ, thì biển Nam Hoa cũng không phải là biển của nước Trung Hoa về phía Nam.

 

 

 

 V. 5 KHUYẾN CÁO VÀ 4 TRỌNG TỘI

 

     Vì vùng biển này tọa lạc tại Đông Nam Á  nên trong  Bản Phúc Trình năm 1995 gửi 7 vị nguyên thủ quốc gia Khối Asean (Hiệp Hội các Quốc Gia Đông Nam Á), người viết đã đề nghị  đổi danh xưng Biển Nam Hoa (South China Sea) thành Biển Đông Nam Á (South East Asia Sea).

     Theo quan niệm “chính quyền nào rồi cũng tiêu vong nhưng đất nước và dân tộc thì vẫn còn mãi”,  trong Bản Phúc Trình năm 1995, người viết  đã khuyến cáo nhà cầm quyền Hà Nội  thực hiện 5 việc sau đây:

1) Trước hết Việt Nam phải nhờ các luật gia và chuyên gia quốc tế vẽ ranh thềm lục địa lý (Nền Lục Địa), để yêu cầu Ủy Ban Phân Ranh Thềm Lục Địa Liên Hiệp Quốc chấp thuận cho nới rộng thềm lục địa pháp lý qua mức 200 hải lý tới 350 hải lý.

2) Muốn vậy, Việt Nam phải tuân hành Luật Biển bằng cách thu hẹp Đường Căn Bản cho hợp pháp.

3) Phát triển tối đa kỹ nghệ đánh cá trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý để sử dụng đúng mức, điều hành và bảo tồn nguồn lợi ngư nghiệp thiên  nhiên tại Biển Đông.

4) Vận động với các quốc gia trong khối ASEAN yêu cầu đổi danh xưng Biển Nam Hoa thành Biển Đông Nam Á.

5) Đưa vụ phân ranh hải phận và vấn đề chủ quyền lãnh hải tại các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa ra Ủy Ban Phân Ranh Thềm Lục Địa, Tòa Án Trọng Tài hay Toà Án Quốc Tế, nếu cuộc điều giải bất thành.

     Từ đó tới nay đã hơn 12 năm, nhà cầm quyền Hà Nội vẫn im hơi bất động. Thậm tệ hơn nữa:

1.  Năm 1999, Việt Nam đã ký Hiệp Định Biên Giới Việt Trung để nhượng 800 km2 đất biên giới cho Trung Quốc.

2.  Năm 2000, Việt Nam đã ký Hiệp Định Vịnh Bắc Bộ để hiến dâng một vùng lãnh hải 12,000 km2 nước Biển Đông cho Trung Quốc.

3.  Cũng trong năm này, Việt Nam còn ký Hiệp Định Hợp Tác Nghề Cá để dâng cá dâng dầu cho Trung Quốc.

4.  Và, để có sự yểm trợ của Bắc Kinh trong kế hoạch thôn tính Miền Nam bằng võ lực, năm 1958, do văn thư của Phạm Văn Đồng, Hồ Chí Minh,  Chủ Tịch Đảng và Chủ Tịch Nước, đã tự ý chuyển nhượng các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc.

     Những hành vi này cấu thành 4 tội phản bội tổ quốc bằng cách “cấu kết với nước ngoài nhằm xâm phạm chủ quyền quốc gia, xâm phạm sự toàn vẹn lãnh thổ của Tổ Quốc và xâm phạm quyền của nhân dân được sử dụng đầy đủ những tài nguyên và nguồn lợi thiên nhiên của đất nước”.

     Kể từ tháng 6-2004, khi Hiệp Định Hơp Tác Đánh Cá có hiệu lực chấp hành do sự “phê duyệt” của Chính Phủ (thay vì phải có sự “phê chuẩn” của Quốc Hội), Trung Quốc đã lấn chiếm các vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa tại Trung Việt (Đà Nẵng, Khánh Hòa) trong chính sách Vết Dầu Loang.

     Đặc biệt là ngày  8-1-2005 tại Vịnh Bắc Việt,  lính tuần duyên Trung Quốc đã dùng đại liên hạ sát 9 ngư dân, gây thương tích 7 người và bắt giữ 8 người tại một vùng biển của Việt Nam. Nạn nhân là những ngư dân Thanh Hóa đi đánh bắt tôm cá tại miền duyên hải Biển Đông là môi trường sinh sống đời đời. 

     Đây không phải là những hành động tự phát của một số binh sĩ vô trách nhiệm, mà là cả một chính sách khủng bố “sát nhất nhân, vạn nhân cụ” (giết một người khiến hàng vạn người khác phải sợ). Mục đích để ngăn cấm ngư dân Việt Nam không được đến đánh cá tại vùng biển sâu, dành cho Trung Quốc độc quyền đánh cá, thăm dò và khai thác dầu khí tại Vịnh Bắc Việt và miền duyên hải Trung Việt.

     Do những hành động này Trung Quốc đã phạm tội cố sát có dự mưu.

 

VI. ĐIỀU GIẢI VÀ TỐ TỤNG

 

     Về mặt tố tụng nhiều người nghĩ rằng Việt Nam ngày nay là hội viên không thường trực của Hội Đồng Bảo An nên có lợi thế để đưa vụ tranh chấp Hoàng Sa-Trường Sa ra trước Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc.

     Vấn đề không đơn giản như vậy.

     Trước hết đương đơn phải là Chính Phủ Hà Nội. Vấn đề là ngày nay Hà Nội có dám khởi tố Bắc Kinh hay không? Trong tình trạng hiện tại chúng ta có quyền hoài nghi điều- này.

     Vả lại, theo Hiến Chuơng Liên Hiệp Quốc, Hội Đồng Bảo An là một cơ quan tài phán và hành động có nhiệm vụ bảo vệ hòa bình và an ninh thế giới. (Các Điều 24 và kế tiếp). Như vậy chỉ khi nào có những vụ vi phạm hay đe dọa hòa bình và an ninh thế giới (như xâm lăng võ trang) thì các quốc gia hội viên Liên Hiệp Quốc mới có thể đưa vụ tranh chấp ra trước Hội Đồng Bảo An.

     Chúng ta hãy trở lại vụ Trung Quốc xâm lăng Hoàng Sa ngày 19-1-1974. Ngay ngày hôm sau, 20-1-1974, Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa đã yêu cầu Hội Đồng Bảo An triệu tập một phiên họp bất thường để giải quyết vấn đề này. Vì đây rõ rệt là một vụ xâm lăng võ trang, vi phạm chủ quyền quốc gia và chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam, đồng thời đe dọa hòa bình và an ninh tại Đông Nam Á.

     Trở ngại đầu tiên là vấn đề túc số. Muốn triệu tập một phiên họp bất thường phải có sự tán thành của quá bán tổng số các quốc gia hội viên thường trực và không thường trực (15 nước). Túc số cần có là quá bán cộng 1 (8 +1 = 9), nghĩa là phải có 9 quốc gia đồng ý. Tuy nhiên theo sự thăm dò của ông Chủ Tịch Hội Đồng Bảo An chỉ có 5 nước là Mỹ, Anh, Úc, Ái Nhĩ Lan và Costa Rica tán thành, nên không đủ túc số. Sau đó Chủ Tịch Hội Đồng Bảo An gửi văn thư tham khảo ý kiến của Bắc Việt về vấn đề chủ quyền Hoàng Sa, nhưng Hà Nội cố ý lẩn tránh,  không trả lời.

     Dầu rằng đây chỉ là một giả thuyết- Hội Đồng Bảo An có đủ túc số để triệu tập phiên họp và  tuyên nghị quyết yêu cầu Trung Quốc triệt thoái khỏi Hoàng Sa, thì nghị quyết này cũng sẽ không được chấp hành do quyền phủ quyết của Trung Quốc. Là một trong 5 ngũ cường, hội viên thường trực của Hội Đồng Bảo An có quyền phủ quyết, Trung Quốc có quyền đơn phương hủy bỏ mọi quyết nghị của Hội Đồng Bảo An mà không cần viện dẫn lý do.

     Về nội dung, căn cứ vào thủ tục, thẩm quyền của Hội Đồng Bảo An và thực tế chính trị hiện nay, đơn khởi tố của Việt Nam, nếu có, cũng ít hy vọng được chấp thuận. Vì Hội Đồng có thể chủ trương rằng việc thành lập một huyện như Tam Sa để quản trị  các đảo Đông Sa, Hoàng Sa (Tây Sa), và Trường Sa (Nam Sa) chỉ là vấn đề hành chánh, không phải là xâm lăng võ trang đe dọa hòa bình và an ninh thế giới. Năm 1974 Hội Đồng Bảo An đã bác đơn của Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa yêu cầu triệu tập phiên họp bất thường, dầu rằng Trung Quốc đã xâm chiếm võ trang một số hải đảo tại Hoàng Sa của Việt Nam.

     Trên thực tế đơn khởi tố nặng về tác dụng chính trị. Trong mọi trường hợp, Chính Phủ Việt Nam phải tố cáo Bắc Kinh là kẻ xâm lược. Trong khi đó Quốc Hội phải công bố trước quốc dân và quốc tế chủ quyền lãnh thổ và lãnh hải của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa. Đồng thời với sự công bố chủ quyền của Quốc Hội và đơn khởi tố của Chính Phủ là  sự phản kháng quyết liệt của đồng bào trong nước hành sử quyền yêu nước là một quyền tinh thần và quyền biểu tình là một quyền hiến định (Điều 69 Hiến Pháp). Ba mặt giáp công sẽ tạo nên một áp lực tinh thần mạnh mẽ đẩy tới cuộc đấu tranh trên bình diện chính trị. Sự biểu dương lực lượng quy mô và đồng loạt này sẽ tạo nên thế toàn dân đoàn kết chống ngoại xâm là một võ khí mạnh nhất để đánh động lương tâm của các dân tộc yêu chuộng công lý và nhân quyền trên thế giới. Trước áp lực quốc tế, Bắc Kinh sẽ phải suy nghĩ lại và chùn bước xâm lăng. Chính sách cố hữu của họ là “mềm nắn rắn buông”.

     Dầu sao khu hành chánh Tam Sa cũng chỉ là một hỏa mù. Vì sau khi công bố thành lập huyện Tam Sa, Bắc Kinh lại chỉ thị cho hội đồng nhân dân địa phương không ghi vấn đề này vào chương trình nghị sự. Mục đích để xoa dịu đấu tranh, cho Hà Nội có lý do giải thích xuyên tạc và dối gạt dư luận rằng Trung Quốc đã nhượng bộ về vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa. Từ đây Nhà Nước sẽ đàn áp thẳng tay mọi cuộc mít tinh biểu tình của sinh viên chống chủ nghĩa bá quyềnTrung Quốc.

     Trong khi đó, thay vì phản kháng Trung Quốc, và công bố chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa, Đảng và Chính Phủ lại ủy thác cho một vài cán bộ hành chính địa phương lên tiếng xác định chủ quyền lãnh hải của Việt Nam. Đây cũng chỉ là một chiến thuật hỏa mù để xoa dịu công phẫn của quốc dân, khiến dư luận ngộ nhận rằng Đảng Cộng Sản vẫn tha thiết với tiền đồ dân tộc trong việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ.

     Do đó khu hành chánh Tam Sa chỉ là hỏa mù lập ra để đánh lạc dư luận quần chúng. Vì như đã trình bày, từ 1946, Trung Hoa đã lập Đặc Khu Hành Chánh Hải Nam để quản trị toàn thể vùng biển Nam Hải. Đặc Khu này rộng bằng phân nửa lục địa Trung Hoa, chạy từ Việt Nam qua Nam Dương, Mã Lai, Brunei và Phi Luật Tân. Nó chiếm hơn 80% Biển Đông Nam Á. Đã có Đặc Khu Hành Chánh Hải Nam thì cần gì phải lập Huyện Tam Sa?

     Vấn đề căn bản là Việt Nam có dám khiếu tố Trung Quốc không?

Trong điều kiện hiện tại, chúng ta có quyền hoài nghi việc này.

     Vì Đảng Cộng Sản đi trái quyền lợi của đất nước và tước đoạt quyền biểu tình của người dân, quốc dân chỉ còn một cách là đứng làm lịch sử để thiết lập chính phủ dân cử đủ tư cách và khả năng đấu lý và đấu pháp với Bắc Kinh.

     Về cả hai mặt điều giải và tố tụng, Việt Nam có triển vọng thắng thế. Và dầu Trung Quốc có chiếm một số đảo, cồn,  đá, bãi tại Biển Đông thì sự chiếm cứ này cũng không có tác dụng tước đoạt chủ quyền của Việt Nam tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa chiếu Điều 77 Luật Biển.

     Có điều là từ nay các ngư dân vùng bờ biển Việt Nam, từ Ninh Bình-Thanh Hóa, Quảng Bình-Quảng Trị đến Đà Nẵng-Khánh Hòa v...v... sẽ không còn quyền được sử dụng các tài nguyên và nguồn lợi thiên nhiên của đất nước. 

 

NGÀY HOÀNG SA

Luật Sư NGUYỄN HỮU THỐNG

(Thuyết trình tại California ngày19-1-2008)