SINH LỘ CHO QUÊ HƯƠNG (PHẦN I):

GIẢI TRỪ VĂN HÓA ÐẢNG, TRỞ VỀ NGUỒN CỘI VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG, DI SẢN VÔ GIÁ CỦA TIỀN NHÂN

 

Nguyễn Diệp Phong

 

Các đảng viên yêu nước hãy mạnh dạn phát động “Phong trào đốt thẻ Ðảng”,triệt tiêu công lực Ðảng, trước là giải cứu quê hương, sau là tự độ mình, thời gian không còn vậy.

 

 

Văn Hóa Ðảng (VHÐ)

 

Tội ác của Chủ Nghĩa Cộng Sản (CNCS) rất là kinh khủng.  Trong thế kỷ XX, ước tính có hơn 100 triệu sinh mạng đã bị những người cộng sản (CS) trực tiếp giết (Le Livre Noir Du Communisme: Liên Xô 20 triệu, Trung Quốc 65 triệu, Bắc Hàn 2 triệu, Cambốt 2 triêu, Afghanistan 1,5 triệu, Việt Nam 1 triệu, Ðông Âu 1 triệu, Nam Mỹ 150.000).  Nếu kể cả những nạn nhân gián tiếp thì con số rất là khủng khiếp.  Ở Việt Nam, sau 1975, xác bỏ biển Ðông hơn nửa triệu; nếu kể cả vượt biên đường bộ, các trại cải tạo, vùng kinh tế mới thì không dưới một triệu).

 

Do đó ngày 25 tháng 1 năm 2006 vừa qua, Nghị Hội Âu Châu, gồm 46 quốc gia, đã thông qua Nghị quyết 1481 với số phiếu áp đảo 99/42, lên án chủ nghĩa và các chính thể CS, trong dĩ vãng và hiện nay, trong đó có Việt Nam, đã phạm tội ác chống nhân loại không thua gì chủ nghĩa phát xít Ðức Hitler (CNPX).  Tập đoàn lãnh đạo các chính thể nầy phải được đưa ra xét xử tại tòa án quốc tế.

 

Thực ra, bản chất của CNCS còn dã man, kinh khủng hơn CNPX nhiều, vì đối tượng giết hại, tàn sát của chúng chính là đồng bào của nó. Ngoài ra cái tác hại trầm trọng đáng sợ nhất của nó là sự hình thành Văn Hóa Ðảng (VHÐ),thực chất là văn hóa nô dịch dối trá, phản dân tộc.  Mục đích của nó là phá huỷ nền Văn hóa Truyền thống (VHTT) của dân tộc mình; làm biến dị con người trở nên mê muội mù quáng, vô nhân bản không còn phân biệt thiện ác, đúng sai theo văn hóa truyền thống, não trạng như bị đóng băng không bao giờ thay đổi.

 

VHÐ và Trung Quốc (TQ)

 

Năm 1992, Thầy Lý Hồng Chí sáng lập Pháp Luân Công (PLC), một pháp môn tu luyện ở TQ theo trường phái Phật.  Chỉ trong thời gian khoảng 8 năm, có hơn 100 triệu người theo, hơn cả số đảng viên (70 triệu) trong đó có rất nhiểu đảng viên.  Ðảng CS TQ sợ quá ra lệnh cấm đoán đàn áp rất dã man.  Trong bài nói chuyện về đề tài “Không Làm Chính trị” (Kinh Văn 26/1/2006), Thầy phát biểu: “Về vấn đề đảng CS bức hại Pháp Luân Công, thì trong mấy năm vừa qua vẫn luôn có rất nhiều người TQ, do không biết rõ chân tượng, nên mới cho rằng sự bức hại ấy là cần thiết.  Nguyên nhân là do đảng, qua nửa thế kỷ thống trị TQ, đã rót đầy một bộ VHÐ vào người dân TQ, làm cho người TQ nhìn vấn đề hoặc suy nghĩ theo VHÐ, không còn biết đúng sai theo VHTT nữa...  Trung Cộng hôm nay đã rơi vào chỗ hủ bại triệt để, khủng hoảng bốn bề, cùng đường bế tắc...  Người TQ khi sang xã hội tây phương, đã không hiểu nổi ngôn từ hành vi của người TQ; đều cảm thấy kỳ quái lắm; những ngôn từ hành vi của những người lãnh đạo TQ khi ra nước ngoài khiến người phương tây cho là có vấn đề lý trí.  VHÐ đã khiến tư tưởng và văn hóa của TQ trở nên biến dị đến mức nào...  Vì sự biến dị tư tưởng nầy đã khiến Trung Cộng dễ dàng tìm được lý do hợp pháp cho các loại áp chế liên tục lên dân TQ...  Ðể có thể duy trì địa vị thống trị hợp pháp Trung Cộng lợi dụng và kích động nhiệt tình yêu nước của người TQ, không ngừng bành trướng tình cảm yêu nước của người dân, trở nên nhầm lẫn 'không có đảng cộng sản thì không có TQ', 'yêu nước là yêu đảng', 'yêu đảng là yêu nước.' Lừa dối người TQ hết lần nầy qua lần khác.”

 

VHÐ và Việt Nam

 

a)      VHTT Việt Nam

 

VHTT, đặc thù của một nền văn hóa có bốn ngàn năm văn hiến, có đặc điểm yêu nước và tinh thần bất khuất.  Văn hóa nầy là di sản vô giá của tiền nhân.  Chính nền văn hóa nầy mà tổ tiên ta đã đập tan tham vọng đồng hóa, thôn tính triền miên của kẻ thù khổng lồ phương Bắc, công cuộc giải phóng 1.000 năm Bắc thuộc; và những chiến công lẫy lừng của Trần Hưng Ðạo, Lê Lợi, Quang Trung,... chứng minh hùng hồn dân tộc Việt Nam vô địch trước mọi kẻ thù.  Đây là chân lý lịch sử.

 

Trong thư của Nguyễn Tiến Trung, khi còn là sinh viên ở Pháp (tgnn169&hotmail.fr), gởi cho thầy Nguyễn Minh Hiển, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Ðào tạo, cùng các cấp lãnh đạo Ðảng và Nhà nước có đoạn: “Văn hóa Việt Nam là sự tổng hợp tinh hoa của ba hệ tư tưởng lớn: Phật, Nho, Lão, và sau này có thêm đạo Thiên Chúa.  Ðạo Phật với tư tưởng từ bi, hỉ xả; đạo Nho với Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín, và suy nghĩ xả thân cho đất nước; đạo Lão với tinh thần trung dung, coi thường danh lợi; và đạo Thiên Chúa với tình yêu bao la cho con người. Nhưng chủ nghĩa Mác Lênin lại là bạo lực cách mạng, phải đào mồ chôn người khác, và phải luôn nuôi trong đầu những ý nghĩ hận thù.  Chúng ta đâu có xứng đáng là con cháu Nguyễn Trãi “lấy chính nhân thắng cường bạo” với việc sử dụng bạo lực để đàn áp người trái ý kiến với mình.

 

Ngày 11/09/2001, cả thế giới bàng hoàng và đau đớn khi hai tòa nhà WTC ở New York bị tấn công, em đã nhảy lên vui mừng vì đế quốc Mỹ bị trừng phạt.  Tính ác trong người em nổi dậy, nhưng em lại cho đó là suy nghĩ đúng đắn theo những gì được dạy dỗ. Ðến bây giờ em vẫn không hiểu tại sao lúc đó em có thể suy nghĩ như vậy.”  Không biết ông Nguyễn Minh Hiển cùng các cấp lãnh đạo có ai đọc bức thư nầy không?

 

b)      VHÐ và miền Bắc Việt Nam

 

Không may cho đồng bào miền Bắc, trong đó có những cán bộ Việt Minh miền Nam tập kết, bắt đầu từ sau Hiệp định Genève (1954) bị đặt dưới sự thống trị của VHÐ cho đến hôm nay.  Xin nghe nhà văn Dương Thu Hương (DTH) kể lại sự thống trị, áp đặt văn hóa nầy trong cuộc phỏng vấn của Ðinh Quang Anh Thái ở Pháp vào trung tuần tháng 2 năm 2006: “Lần đầu tiên vào miền Nam, tôi không choáng ngợp vì nhà cao cửa rộng của miền Nam, mà vì tác phẩm của tất cả các nhà văn miền Nam đều được xuất bản trong một chế độ tự do; tất cả các tác giả mà tôi chưa bao giờ biết đều có tác phẩm bầy trong các hiệu sách, ngay trên vỉa hè; và đầy rẫy các phương tiện truyền thông như TV, radio, cassette.  Những phương tiện đó đối với người miền Bắc là những giấc mơ.  Ở miền Bắc, tất cả mọi báo đài, sách vở đều do nhà nước quản lý.  Dân chúng chỉ nghe đài Hà Nội mà thôi và chỉ có những cán bộ được tin tưởng lắm mới được nghe thêm đài Sơn Mao, tức là đài TQ.  Còn toàn bộ dân chúng nghe một tiếng nói, tức tiếng nói của Ðảng.  Ðảng là chân lý tuyệt đối.  Vào Nam tôi mới hiểu rằng, chế độ ngoài Bắc là chế độ man rợ vì nó chọc mù mắt con người, bịt lỗ tai con người.  Trong khi đó, ở miền Nam, người ta có thể nghe bất cứ thứ đài nào Pháp, Anh, Mỹ nếu người ta muốn.  Ðó mới là chế độ văn minh.  Và thật chua chát khi nền văn minh đã thua chế độ man rợ. Ðó là sự hàm hồ và lầm lỗi lớn nhất mà dân tộc VN phạm phải.”  Song song đó là “... một chế độ cường quyền ức hiếp người dân khiến người dân sợ hãi, nỗi sợ hãi nghiền nát con người thành những con kiến.”

 

Với chánh sách nầy, thì không bao lâu, VHTT bị phá sản trầm trọng.  Hầu hết trí thức, sĩ phu truyền thống, xương sống sức mạnh của dân tộc bị VHÐ tiêu diệt và xuất hiện một tầng lớp trí thức biến dị gọi là trí thức Xã Hội Chủ Nghĩa (XHCN), với một tinh thần nô lệ trầm trọng, mất hết nhân phẩm và liêm sỉ (tiêu biểu là Tố Hữu).

 

Tuy nhiên, bên cạnh cái bất hạnh của những đảng viên miền Nam tập kết ra Bắc là cái phúc của hơn một triệu đồng bào miền Bắc có điều kiện di cư vào Nam thoát được VHÐ cho đến năm 1975.

 

c)      VHÐ và miền Nam Việt Nam

 

May mắn cho miền Nam!  Sau Hiệp định Genève (1954) miền Nam không bị VHÐ thống trị và được nằm trong hệ thống thế giới tự do; nên VHTT nói trên được bảo tồn và phát triển.  Do đó mà sau 1975, khi nhận diện mặt thật CNCS, hầu hết nhân dân miền Nam đều muốn tìm đường ra đi.  Hơn hai triệu người đã đến được bến bờ tự do, hơn nửa triệu bỏ xác dưới lòng đại dương, làm chấn động lương tâm nhân loại. Ngoài di sản vô giá của tiền nhân là VHTT, số người nầy đến bến bờ tự do với hai bàn tay trắng.

 

Cũng chính vì VHTT bất khuất mà rất nhiều quân nhân đã tự sát khi Dương Văn Minh kêu gọi buông súng, trong đó có 5 vị tướng mà mọi người đều biết là Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Phạm Văn Phú, Trần Văn Hai và Lê Nguyên Vỹ.  Ðể thấy được tầm vóc lớn lao của VHTT nầy, có lẽ không gì bằng xem qua 3 cuốn video sau đây.  Cuốn thứ nhất về Biến cố Trần Trường (BCTT), ghi lại cuộc đấu tranh hết sức hào hùng vào mùa Xuân năm 1999 của Cộng đồng người Việt tỵ nạn (CÐNVTN) ở khu Little Saigon, khẳng định sự liều chết ra đi, tinh thần bất khuất, không đội trời chung với CS.  Khí thế đã làm chấn động chính trường Mỹ và đã thành công trong việc hạ lá cờ CS và hình Hồ Chí Minh (HCM).  CSVN vô cùng mất mặt. Thế nhưng thay vì thức tĩnh, lại xuyên tạc, vu khống mục tiêu đấu tranh là “hận thù quá khứ” với Công Trình nghiên cứu khá công phu “tìm cội nguồn hận thù” của ký giả trẻ Phan Trần Hiếu, đi tìm nguyên nhân hận thù trong gia phả của Trần Trường tận miền Trung Việt Nam, khá trơ trẽn. Do biến cố nầy mà đến nay lá cờ CS không thể xuất hiện nơi công cộng nào, ngoại trừ tòa đại sứ và lãnh sự CS.

Hai cuốn kế, “Ba Mươi Năm Nhìn Lại” của Trung tâm Asia và “Ba Mươi Năm Viễn Xứ” của Trung tâm Thúy Nga, nói lên thành quả vô cùng hãnh diện của người tỵ nạn Việt Nam, một bộ phận dân tộc mà Phạm Văn Ðồng cho là bất lương, trôi dạt về đâu không cần biết (ý nói sẽ biến mất với thời gian).  Nhưng trái lại, không những không biến mất mà còn phát triển lớn mạnh, hình thành gần như trọn vẹn một nước Việt Nam Tự Do hải ngoại với VHTT vô cùng ngoạn mục mà chế độ phải nể sợ.

 

Bên cạnh đó, không may cho những đồng bào không đi được, đành phải chấp nhận cuộc sống dưới VHÐ; và cuộc sống đó là xã hội Việt Nam vô đạo đức suy đồi lạc hậu thế nào mọi người đều biết.

 

Tâm tình xin chia xẻ với những đảng viên kỳ cựu

 

Thưa quý vị, “sự thật” không thể phủ nhận, tinh thần yêu nước xuất phát từ VHTT,  mà quý vị đã hy sinh vô bờ bến cho công cuộc giải phóng đất nước khỏi ách đô hộ của thực dân Pháp, nhằm mục tiêu xây dựng một nước VN ”Dân Chủ Cộng Hòa, Ðộc Lập, Tự Do Hạnh Phúc”, một lý tưởng vô cùng cao đẹp. Thế nhưng “sự thật” ngỡ ngàng chua chát thế nào xin mạng phép chia xẻ với quý vị những tâm tình và nhận định của những đảng viên sau đây:

 

a.       Xin trích một đoạn thư của Luật sư Nguyễn Hữu Thọ (LS NHT) gửi cho con lúc lâm chung. NHT là lãnh tụ của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (MTGPMN), một tổ chức có công đầu đã đưa CNCS lên đỉnh cực thịnh tháng 4 năm 1975.  Do đó ông được cân nhắc lên chức chủ tịch nước, một chức vụ cao nhất nước. Thư có đoạn: “Bài học thất bại trong cuộc đời làm cách mạng của cha là bài học chọn lầm lý tưởng CS và chủ nghĩa CS, và sai lầm lớn nhất của cha là tự nguyện trở thành đảng viên CSVN.  Nhưng điều đáng lên án nhất là tính cách phục tùng đến hèn nhát của cha đối với những mệnh lệnh phi nhân, bất nghĩa của tập đoàn lãnh tụ độc tài chuyên chế đã mất hết tình tự dân tộc.”  Rõ ràng ông như bị cấy “sinh tử phù” VHÐ đã biến ông không còn là ông, khi phát hiện thì quá trể.  Lời sám hối của Ông ẩn chứa một niềm uất hận vô biên.  Vì sao?

 

Thành phần dân tộc bị ÐCSVN lừa và phản bội tàn nhẫn nhất là MTGPMN.  Tổ chức nầy không những có công đầu, mà quan trọng hơn, không có MTGPMN, CSBV hiện nguyên hình và không thể chiến thắng được.  Ðúng như Võ Nguyên Giáp thú nhận trong hồi ký viết năm 1985: “Nếu không có những hội đoàn như Hội Cựu chiến binh Việt Nam chống Chiến tranh thì Hà Nội đã phải đầu hàng Hoa Kỳ rồi”.  Và rõ ràng không có MTGPMN, phong trào chống chiến tranh không làm sao phát triển mạnh được.  MTGPMN đã đánh lừa dân tộc Việt Nam và nhân dân thế giới đặc biệt là nhân dân Mỹ; nhưng tai hại nhất là MTGPMN đã tạo chính nghĩa cho CSVN xăm lăng miền Nam.  Chính chiếc xe tăng đầu tiên ủi sập cổng Dinh Ðộc lập, cũng như tất cả mọi đơn vị của đoàn quân đều đi sau lá cờ MTGPMN, một màn kịch thật là tuyệt vậy.

 

Ðau đớn thay, chỉ ba tháng sau ngày chiến thắng, ÐCSVN giải tán Chánh phủ Lâm thời của MTGPMN; sau đó giải tán luôn MTGPMN và ra lệnh cho đồng bào miền Nam bôi xóa hoặc hạ tất cả cờ của MTGPMN, mà trước đây chúng đã bắt buộc dân sơn lên vách và treo lên trước nhà trong chiến dịch lấn đất giành dân, trước khi ngưng chiến.

 

Thành phần lãnh đạo MTGPMN, những ai là không phải đảng viên, sau khi nhận diện ÐCSVN, đều biết thân và tìm đường trốn chạy sớm.  Những ai tưởng bở ở lại không tránh khỏi học tập tẩy não.  Còn thành phần đảng viên thì chỉ là những chậu kiểng (LS NHT, Nguyễn Thị Bình, Nguyễn Thị Ðịnh, BS Dương Quỳnh Hoa,...)  BS Dương Quỳnh Hoa, vào khoảng cuối thập niên 70, vô cùng bất mãn nên xin bỏ đảng nhưng không được đảng chấp thuận, vì sợ đảng viên gốc miền Nam sẽ bỏ đảng tập thể.  Cuối cùng được chấp thuận nhưng với điều kiện chỉ được công bố 10 năm sau!

 

b- Nhà văn DTH trong cuộc phỏng vấn nói trên ở Pháp cho biết: “Tháng 5 năm 1975, với tư cách một nữ cán bộ CS, tôi được vào thăm Sài Gòn.  Trước sự phồn thịnh của Miền Nam, trong khi tất cả mọi người trong đội quân chúng tôi đều hớn hở cười thì phản ứng đầu tiên của tôi là ôm đầu ngồi khóc bên vỉa hè.  Tôi khóc vì Thế giới Tự do (TGTD) đã khiếp nhược bỏ chạy trước một thể chế man rợ.  Ðảng đã đánh lừa chúng tôi khi tuyên truyền láo rằng miền Nam là một ổ đĩ điếm, thối nát, nghèo khổ cùng cực và thiếu hẳn tự do.  Thật sự, Nam vượt xa Bắc như trời với đất.  Tôi khóc vì tôi thấy tuổi xuân của tôi đã hy sinh một cách uổng phí...”  Và rồi hôm nay sau hơn 30 năm: “Cái XHCN nầy là xã hội nhà thổ và là cái bảng treo đầu heo bán thịt chó, chứ thực chất của nó là sự cướp bóc của một đội ngũ cầm quyền, cướp bóc tài sản của quốc gia, tài sản của dân chúng và tàn phá tài nguyên đất đai của tổ quốc.  Tất cả những sự cướp bóc và tàn phá đó là những cái giá mà thế hệ sau phải trả.”

 

c- Tiến sĩ Hà sĩ Phu, trong “Biện chứng về Ngụy biện trong Công cuộc Ðổi mới” (bài II), viết: “Tôi viết bài này chính vì mặc cảm tội lỗi, tội lỗi của cái nhìn của thế hệ, của giống nòi, mặc cảm bị lưu manh lừa.  Những thế hệ con cháu sau nầy sẽ hiểu chúng ta là những người thế nào, khi thấy chúng ta đã chung sống với cái phi lí, với cái lưu manh một cách hòa thuận đến thế”.

 

d- Thực tế trên đây được Trung tướng Trần Ðộ, có thời là chủ nhiệm Ban Văn hóa Văn nghệ Trung ương, nhận định trong “Nhật ký Rồng Rắn”: ”Nói thì dân chủ vì dân, mà làm thì chuyên chính, phát xít...  Chế độ này bắt mọi người phải đảng trị, bắt trẻ con phải đảng trị, bắt người già phải đảng trị...  (Họ đã hình thành một xã hội lừa dối: Lãnh đạo dối lừa, Ðảng dối lừa, cán bộ dối lừa, làm ăn giả dối, giáo dục giả dối, bằng cấp giả dối, đến gia đình cũng lừa dối, lễ hội lừa dối, tung hơ lừa dối...”

 

Thành quả xã hội của VHÐ

 

Sau thời gian dài hơn 60 năm từ ngày HCM du nhập CNCS, sau đây xin tóm lược “thành quả” nổi bật:

 

a- Sau hơn 30 năm thống nhất, dưới sự thống trị của VHÐ, xã hội Việt Nam ra sao?  Xin nghe ông Trần Quang Thuận, Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Việt Nam  trả lời cuộc phỏng vấn của đài BBC: “Cơ chế hiện nay đang tạo kẻ hở cho tham nhũng, vơ vét tiền của nhà nước.  (Tham nhũng là chuyện thường ngày), không tham nhũng mới là lạ! Những cái mà chúng ta mất lớn nhất lại không phải là mất tiền, mất của dù số đó là hàng chục tỉ, hàng trăm tỉ.  Cái lớn nhất bị mất là đạo đức.  Chúng ta sống trong một xã hội mà chúng ta phải tự nói dối với nhau để sống.  Thói quen đi lặp đi lặp lại nhiều lần thành ‘đạo đức’ đó là rất mất đạo đức.  Ðấy là một cái nguy, nhưng tôi thấy ít người quan tâm, chỉ chăm chăm vào vụ tham nhũng này, vụ tham nhũng kia.”

 

Trong phần thảo luận của thính giả về bài phỏng vấn, anh Thu Phong, một cựu du học sinh ở Hoa Kỳ mười năm trước, hết lời kính phục ông trước những lời nói vô cùng xác thực và anh rất thấm thía qua bức thư của mẹ có đoạn: “Con phải tìm cách ở lại, không nên trở về Việt Nam.  Mẹ khuyên con như vậy, không phải là mẹ muốn cho con có một cuộc sống vật chất sung túc mà là vì nơi quê hương mình, mọi hình thức sống đều khởi nguồn bằng sự dối trá.  Những gì mẹ dạy cho con, tạo cho con nên một con người không còn thích hợp trong xã hội nầy nữa.  Con không thể đương đầu nổi với sự dối gạt từ trên xuống dưới.  Dù mất đi tiền bạc, của cải và ngay cả đất đai, mẹ có buồn; nhưng nỗi buồn lớn lao, đau xót nhất, không bao giờ nguôi ngoai là mất đi nền văn hóa tốt đẹp mà cha ông ta đã tạo dựng Môi trường xã hội nầy sẽ nghiền nát con ra, nếu con quá chân thật.  Dù xa mẹ, con hãy ở một nơi nào đó để con có đủ trí thức và hành động theo chiều hướng của một con người thật sự.

 

Sau sáu năm, khi vừa học xong vì không thể xa mảnh đất cha ông, anh không nghe lời mẹ và trở về.  Và rồi những lời mẹ dặn năm xưa lại hiển hiện ra trước mắt, anh không thể chấp nhận.  Cũng may nhờ điều kiện hôn phối, anh lại trở ra được.  Hầu hết những thính giả góp ý đều cùng tâm trạng khoắc khoải như Thu Phong.

 

b- Trong lá thư gửi cho Linh mục Nguyễn Thái Hợp, phụ trách Câu lạc bộ Nguyễn Văn Bình, để yêu cầu “nghiên cứu và đề xuất bài học chính xác và toàn vẹn” về thái độ của Giáo hội Công giáo Việt Nam đối với nhà cầm quyền CS, được đăng trên website Công giáo Việt Nam ngày 23/7/2006, Hồng Y Phạm Minh Mẫn, Tổng giám mục Sài Gòn, đã gợi ý những điểm như sau:

 

* Năm 1954, trước Vatican II, Giáo hội Công giáo phía Bắc có thái độ cứng rắn, bất hợp tác với Nhà nước Cộng sản, gia đình công giáo không gửi con em đến trường Nhà nước.

 

* Năm 1975, sau Vatican II, Giáo hội Công giáo phía Nam có thái độ hợp tác, nhường quyền sử dụng trường, cô nhi viện, viện dưỡng lão và bệnh viện Công giáo cho Nhà nước, gia đình công giáo gửi con em đến trường Nhà nước.

 

* Sau 30 năm, tôi thấy báo chí thông tin kết quả của một cuộc điều tra xã hội: 30–40% học sinh tiểu học nhiễm thói gian lận, lừa dối, 40–50% học sinh trung học nhiễm thói đó, lên đại học thì tỷ lệ 50–60%.  Trong một lần sinh hoạt với giáo chức Công giáo, tôi hỏi tỷ lệ mà báo chí đưa ra có đúng không?  Một giáo viên trả lời rằng thực tế còn hơn thế. Vậy trong trường đời ngày nay tỷ lệ ăn gian, nói dối, hàng giả, thuốc giả, học giả, là bao nhiêu?”

 

Thưa Ðức Hồng y, đâu là “sự thật”?  Phải chăng có sự chệch hướng?  Phải chăng từ sự “chệch hướng” nầy mà Chủ tịch Nguyễn Minh Triết (NMT), trong lúc công du Mỹ, đã biện minh cho hành động đàn áp giáo dân, đặc biệt là cha Lý là có sự đồng tình với Giáo hội?

 

c- Buổi tranh luận giữa LS Trần Lâm (TL) nguyên chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao của chính quyền CS và LS Trần Thanh Hiệp, luật sư các tòa Thượng thẩm Sài Gòn và Paris do cô Trà Mi, đài RFA thực hiện (đăng nguyên văn trên trang Diễn Ðàn của Nhật báo Người Việt ngày 8/10/2007) đã nói lên sự thật vô cùng quan trọng về tình trạng vô cùng lạc hậu luật pháp xã hội Việt Nam mà những ai còn quan tâm với quê hương không thể thiếu.  Quan trọng vì ông TL một đảng viên cao cấp đã thẳng thắng nói lên sự thật vô cùng quý giá.

 

CS rất sợ dân chủ; do đó, Võ Văn Kiệt (VVK), truớc khi rời chức thủ tướng vào năm 1997, đã ký Nghị định (NÐ) 31/CP, một độc chiêu diệt trừ dân chủ. Chính vì độc chiêu nầy mà ròng rã 10 năm trời, qua trào Phan Văn Khải và Nguyễn Tấn Dũng, đồng bào tranh đấu vô cùng nghiệt ngã, phong trào Dân Chủ không lên được. Thế rồi trước áp lực của Mỹ, CSVN phải bỏ, nhưng thực tế thế nào. Ðó là nội dung chính sự tranh luận.

 

Chánh Án Trần Lâm, người thụ lý vụ LS Lê Thị Công Nhân (một nạn nhân của NÐ nầy) xác nhận rằng, trên giấy tờ thì có hủy bỏ nhưng thực tế thì không.  Người cầm quyền muốn bắt giam thì bắt, không cần xét xử, đẻ ra luật gọi là luật hành chánh (luật điều 88).  Ông xác nhận chính quyền không có quyền bắt LS Công Nhân.  Ông còn nhấn mạnh rằng tình trạng nầy được coi như hết sức bình thường.  Còn nhiều chuyện tài trời, thí dụ như vụ án Ðồ Sơn mà xử án treo rồi đồng bào bức xúc quá phải xử lại và án là 7 năm tù, thật không tưởng tượng nỗi.  Ông cho biết những vụ xét xử ở tòa chỉ là những màn trình diễn, với những “bản án bỏ túi”, theo chỉ thị của Ðảng!  Xã hội nầy là xã hội nhân trị tức là ý của người cầm quyền đấy, họ muốn gì thì là họ làm.  Không như những nước tiến bộ có lập pháp, tư pháp, hành pháp phân minh; nước ta nhập 3 quyền nầy lại một cục thành đảng pháp thôi.  Hiến chương Quốc tế Nhân quyền, Công ước Dân sự và Chính trị đều có ký để được vào, nhưng nào ai có đọc.  Thảo nào VVK mạnh tay ký NÐ dễ dàng và ròng rã 10 năm trời vẫn chưa thấy!  Lại còn oang oang dạy đời dân chủ không một chút ngượng ngùng.

 

Sự thật” sẽ giải trừ VHÐ và CNCS

 

“Sự thật” là “bản chất của vũ trụ” có sức mạnh vô song.  Thầy Lý Hồng Chí ( PLC) thấy rõ chân lý nầy nên đã dùng phương sách  “nói lên, phơi bày sự thật” vô cùng hữu hiệu. Ðến nay, đầu năm 2007, mặc dầu hoàn cảnh cấm đoán vô cùng khắt khe, nhưng đã có hơn 20 triệu đảng viên bỏ đảng. Nếu tự do ngôn luận truyền thông được thực hiện tốt thì số người bỏ đảng chắc chắn phải là gấp bội và cũng có thể ÐCSTQ không còn. Thế giới không thấy chân lý nầy đã đi chệch hướng (CH) là nguyên nhân khổ nạn triền miên của các dân tộc và đưa đến thảm họa tận thế (xem phần II)

 

Phúc thay, Ðức Phật Thích Ca có nói; “Ở đời có ba cái không thể che dấu mãi được là Mặt trời, Mặt trăng và Sự thật”. “Sự thật” sớm muộn rồi cũng được phơi bày và ngày nào mà mọi sự thật được phơi bày thì tất cả ÐCS, cũng như độc tài, cuồng tín phải cáo chung vậy.

Thế nhưng có vấn đề là mỗi người nhìn “sự thật” khác nhau. “Sự thật” đích thực chỉ lá một và “sự thật”gần “sự thật” nhất là từ cái nhìn của người trí thức chân chính (TT). Và thế nào là một trí thức chân chính?

 

Trí thức Chân chính (TT), Trường Học (TH) và Trường Ðời (TÐ)

 

Theo xã hội cổ truyền Việt Nam, danh từ TT rất cao quý.  Do đó mới có phân biệt, trí thức tức trí thức đúng nghĩa (chân chính), ngụy trí thức,trí thức khoa bảng. Người trí thức phải trải qua Trường Học (TH) và Trường Ðời (TÐ).  TH thuộc phạm trù giáo dục, TÐ thuộc phạm trù xã hội.  Hai lãnh vực nầy tuy hai về mặt hình thức nhưng lại thống nhất thành một thể trong quá trình hình thành và phát triển con người. “ Người thiển cận thường cho rằng càng học cao bao nhiêu thì càng biết nhiều bấy nhiêu, nhưng thực ra, cái biết nầy chỉ tập trung vào một phần rất nhỏ của đời sống con người.  Nếu chỉ dựa vào bằng cấp chuyên môn, thì chỉ biết giá trị của TH mà không ý thức được sự quan trọng của TÐ.

 

TÐ giúp con người khoa bảng trở nên người trí thức và chọn con đường lý tưởng.  Do đó TH đã khó, TÐ lại còn khó hơn. TÐ giúp con người phát triển khả năng suy tư, tự xét mình trước khi xét người.  Chính cái khả năng suy tư đó mới giải hóa được tinh thần kiêu căng khoa bảng.  Chính cái khả năng suy tư đó làm cho người có học trở nên con người biết suy nghĩ.  TH chỉ đào tạo chúng ta thành một người chuyên môn, tiếp tục TÐ để cải tiến bản thân và xã hội.  Chính cái ý thức đó người khoa bảng trở nên người trí thức”.  (GS Nguyễn Hữu Chì, Tạp chí “Ði Tới” số 37-38).

 

Nói ngắn gọn, người TT là người có học thức luôn trau dồi nhận thức, biết lắng nghe, sáng suốt, có lý tưởng, mạnh dạn nói lên sự thật, không nói một đàng làm một nẻo, trên hết là hành động theo lẽ phải, đạo lý.  Do đó không mơ hồ, có một sự phân biệt rất rõ rệt giữa TT, ngụy trí thức và khoa bảng.Và cái nhìn của TT là gần “sự thật” nhất.

           

Sự thật về Chiến tranh Việt Nam (CTVN)

 

Rất tiếc trong cuộc chiến nầy nhân dân Việt Nam và Hoa Kỳ đã trả cái giá vô cùng lớn lao mà đến nay, tiếng súng đã chấm dứt hơn 30 năm rồi nhưng rõ ràng CTVN đã đi vào lịch sử cả 2 nước không đúng sự thật.  Thật là một đau xót vô cùng cho những người đã nằm xuống cho chính nghĩa cuộc chiến.

 

a-      CTVN đối với dân tộc Việt Nam

 

CTVN đối với dân tộc Việt Nam thực chất là chiến tranh “Giải phóng Dân tộc” (GPDT) phát xuất từ VHTT, đặc điểm yêu nước và bất khuất, một di sản vô giá của tiền nhân.  Cuộc chiến khởi phát từ giữa thế kỷ thứ 19 qua hai giai đoạn, thực chất khác nhau.  Thoạt đầu là cuộc chiến “giải phóng chống thực dân Pháp”.  Ðến khoảng trước Ðệ Nhị Thế Chiến (ÐIITC), cuộc chiến đang dang dở thì CNCS, một thảm họa nhân loại, bành trướng.  HCM tên thật là Nguyễn Tất Thành, khi đến Pháp, gia nhập đảng Cộng sản Quốc tế và lấy tên Nguyễn Ái Quốc.  Từ đây ông trở thành tên Việt gian,đại bịp vô cùng ác nguy hiểm, cuồng tín chỉ biết bành trướng CNCS, không còn biết tổ quốc, dân tộc là gì. Vì bản chất yêu nước của dân tộc Việt Nam mà ông như phù thủy có ma lực ghê gớm,tiêu biểu là Trần Ðức Thảo và Nguyễn Mạnh Tường, 2 nhà trí thức VN nổi tiếng nhất, sau khi diện kiến ông lại biến dị không còn là mình nữa, khi thức tĩnh thì quá trể và cuộc đời của 2 ông vô cùng đau thương.   Tên Nguyễn Ái Quốc lấy từ bút hiệu “Người Yêu nước” (Le Patriote) của những nhà cách mạng tiền bối Phan Châu Trinh, Phan văn Trường, Nguyễn Thế Truyền ở Pháp.

 

Khi đến Trung Hoa, để dấu tung tích CS, ông đổi tên thành Lý Thụy và thành lập ÐCSVN năm 1930.  Nhưng rồi năm 1941 để che mặt dư luận ông thành lập mặt trận “Việt Nam Ðộc lập Ðồng minh Hội” viết tắt là Việt Minh (VM) để có lớp áo quốc gia.  Ở đây xin lưu ý có sự lầm lẫn quan trọng.Thực ra khi HCM thành lập VM, y chưa có tên HCM mà là Lý Thụy và trước đó là Nguyễn Ái Quốc.Vừa thành lập VM, vì không thể qua mặt tướng Tàu Trương Phát Khuê, ông bị bắt giam (đầu năm 1942).  Năm sau (1943), để tỏ tinh thần đoàn kết, cụ Nguyễn Hải Thần (NHT), một lãnh tụ cách mạng quốc gia rất uy tín, lãnh y ra; sau đó, y mới đổi tên là HCM (Việt Nam Pháp Thuộc Sử, Phan Khoang), bí danh của cụ Hồ Học Lãm (chết năm 1942) cùng là lãnh tụ cách mạng quốc gia đồng thời với cụ NHT.  Trong giai đoạn nầy, cụ NHT cùng nhiều nhà cách mạng quốc gia có thành lập tổ chức “Việt Nam Cách mạng Ðồng minh Hội”, một tổ chức cách mạng quốc gia, khác với tổ chức VM, một tổ chức CS, quốc gia trá hình, của Lý Thụy.Hai tổ chức đều có tên đầu và cuối là VM.Ông mang tên HCM từ đấy, thủ đoạn dùng sự giống nhau nầy, tiến hành thủ đoạn tiêu diệt tất cả những lực lượng quốc gia yêu nước.  Ông đã thành công trong việc đánh lừa đồng bào và thế giới, trở thành độc quyền chống Pháp, thắng Pháp qua trận Ðiện Biên Phủ.  Rồi biến Việt Nam thành tiền đồn thế chiến giữa CNCS và TGTD.

 

Bùi Tín, trong cuộc phỏng vấn đăng trên Việt Tide số phát hành 7/7/2006, nhận định: “Ông HCM đã du nhập vào Việt Nam một chủ thuyết hết sức tai hại là chủ thuyết cộng sản. Ông Hồ đã đem áp dụng học thuyết đó hơn 60 năm, gây tàn phá bằng hằng triệu tấn bom B52 trút xuống đất nước, gây thiệt mạng trên 3 triệu người, mà phần lớn là tinh hoa của đất nước cả hai bên.  Những người đó là những người dũng cảm nhất của cả hai bên.  Mất mát của dân tộc như thế là vô cùng to lớn.  Vậy mà, đến bây giờ, giới lãnh đạo đảng CS vẫn chưa tĩnh ra để xin lỗi nhân dân về những việc làm đã gây tổn thất nhân mạng, tàn phá tài sản, làm tan vỡ các gia đình. Tôi nghĩ rằng tội của giới lãnh đạo nặng lắm, không có cách gì gỡ được.”

 

Bùi Tín chỉ thấy phân nửa “sự thật”.  Dù 3 triệu hay mấy triệu sinh mạng chết, nó lớn thật nhưng dù sao nay nó là lịch sử, chuyện đã rồi không làm sao sửa được.  ”Sự thật” cái tác hại đáng nói và lớn ghê gớm là HCM đã xây dựng cái ÐCS “thực chất của nó là sự cướp bóc của một đội ngũ cầm quyền, cướp bóc tài sản của quốc gia, tài sản của dân chúng” (DTH) và tai hại hơn nữa là cấy vào nhân dân cái VHÐ vô cùng độc hại như “cấy sinh tử phù”, hủy diệt VHTT làm biến dị hoàn toàn con người Việt Nam, không biết bao nhiêu thế hệ mới phục hồi. Thế mà ông chỉ gợi ý là “xin lỗi nhân dân về việc đã làm” thì là chưa nhận thức đúng “sự thật” vậy.

 

Nhân dân miền Nam nhìn góc cạnh nào đó có thể chia xẻ với quan điểm ”Về các Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa (VNCH), đối với chúng tôi (Tiêu Dao Bảo Cự (TDBC), thành viên MTGPMN, đảng viên 1974–1989, bị đảng khai trừ, Tĩnh Thức TDDC số 2) không có chính quyền nào đáng tôn trọng.  Sau khi bị lật đổ vào năm 1963, chính quyền Ngô Đình Diệm (NÐD) được tổng kết đánh giá như một chính quyền ‘độc tài, gia đình trị’.  Các chính quyền kế tiếp cho đến năm 1975 là những chính quyền thư lại độc tài quân phiệt, tất cả đều lệ thuộc người Mỹ…”

 

Sau 1954 dù Pháp rút đi, Miền Nam chưa hoàn toàn độc lập, vì Hiệp Ðịnh Geneve là giữa CSBV với thực dân và Ðồng Minh, nhơn danh “Phe Tư bản” (PTB) chống cộng.  Cuộc đấu tranh chính thống “giải phóng“của dân tộc giờ đây còn phải tiếp tục nhắm mục tiêu ngăn chận CNCS. Cụ NÐD được Vatican và Hoa Kỳ đưa về đảm nhận sứ mạng nầy. Hôm nay nhìn lại suốt cuộc chiến, tìm cơ hội bỏ lở có khả năng nhất để thắng cuộc chiến thiển nghĩ là giai đoạn chính Quyền NÐD (như nhận định của Larry Berman, ghi ở đoạn sau).Cụ NÐD có tinh thần quyết tâm giữ chủ quyền quốc gia triệt để. Nhưng Rất tiếc ông lại độc tài đàn áp trí thức bất đồng chánh kiến, không khai thác sức mạnh vô địch, truyền thống bất khuất của dân tộc. Ðiển hình là nhà văn Nhất Linh,một vị lãnh đạo cách mạng nổi tiếng tự sát trong tù một ngày trước khi ra tòa. Tình trạng nầy cũng là cái cớ thành phần xấu ngoại ban lợi dụng lật đổ Ông và CSBV thành lập MT đã thu hút trí thức.

 

Thế nhưng thưa ông TDBC và những đồng chí của ông, dù sự tồi tệ của các chính quyền miền Nam đến đâu đi nữa, cũng không biện minh cho sự mù quáng để trở thành một đảng viên CS tồi tệ như lời sám hối của LS NHT.  Và nếu vì “hàng trăm” lý do nào đó, sự sai lầm ở thời điểm đó thì cũng có thể tạm hiểu.  Nhưng trước những sự thật quá khứ đã được phơi bày và nhất là trước thực tế xảy ra từ ngày ÐCSVN cưởng chiếm miền Nam, cai trị cả nước ròng rã 30 năm nay mà quý vị vẫn còn biện minh cho sự tồn tại của nó để rồi kêu gọi đối thoại hòa giải thì quả thật nhận thức của ông còn rất xa “sự thật”.

 

Hôm nay “sự thật” không ai có thể phủ nhận những nấm mồ của quân dân Miền Nam là những nấm mồ hy sinh cho lý tưởng tự do, dân chủ phù hợp với xu thế tiến bộ của loài người mà chế độ hiện nay đang cố công xây dựng, chớ không vì ý thức hệ hay chủ nghĩa ngoại lai.  Trái lại “sự thật” rõ ràng những nấm mồ của quân dân Miền Bắc là những nấm mồ hy sinh cho sự bành trướng, xăm lăng của CNCS, xây dựng một xã hội lạc hậu, dã man (lời DTH).

 

Nếu không có CNCS thì Việt Nam đã được độc lập từ cái mốc Hiệp ước Elysée 3/8/1949 trước áp lực đấu tranh của dân tộc và xu thế giải thực thế giới từ lâu.  Và do đó cái mà quý vị huênh hoang là hai “hào quang” lại nói lên cái tội ác vô cùng lớn lao qua cái giá sinh mạng dân tộc đã hy sinh vô nghĩa cho “hào quang” tưởng tượng nầy.  Và thử nghĩ nếu dân tộc Việt Nam đi lên từ cái mốc ấy thì Việt Nam hiện nay ra sao so với những nước trong vùng?  Càng suy nghĩ càng thấy đúng là tội của quý vị, như Bùi Tín nói, không cách nào gở vậy.

 

Với DTH, “... ‘sự thật’ đó là dân tộc chúng ta đã có lúc ngu dại; vì là một nước nhỏ nên bị đưa đẩy giữ hai thế lực, dân tộc bị kèm kẹp giữa hai đầu tàu lịch sử…  Dân tộc Việt Nam sau chiến tranh chia làm hai và bên nào cũng không muốn thoát khỏi cái bóng hắc ám của quá khứ.  Một phía là sự hận thù mù quáng, phía kia là lòng kiêu hãnh ngu dốt và bỉ ổi. Cả hai đều ở trong nhà tù của mình. Thế nào là là hận thù mù quáng?  Té ra sự đấu tranh của bà cùng phong trào đấu tranh trong nước chống tập đoàn cầm quyền hiện nay cũng là mù quáng sao?

 

b- CTVN đối với Hoa Kỳ

 

Xin lỗi phần nầy quá dài, xin xem mục nầy trong “Sinh Lộ Quê Hương - Phần II”.

 

c-”Sự thật” cái “Màn Lừa phỉnh” (MLP) Hiệp định Paris

 

Trong những “sự thật”, “sự thật” vô cùng quan trọng không thể thiếu của lịch sử CTVN là “sự thật” của MLP Hiệp định Paris và vai trò bù nhìn của MTGPMN.  Người có uy tính nhất hiện nay để nói lên “sự thật” nầy là Bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Phó chủ tịch, trước đây là đại diện cho MTGPMN trong bàn hội nghị.

 

Nhân đây xin mạn phép có vài dòng xin thưa với bà.

 

Thưa Bà, nếu bà còn sáng suốt và còn nghĩ đến trách nhiệm của mình trước lịch sử và dân tộc, nhất là trách nhiệm giải tỏa niềm uất hận của các đồng chí đã mất, đặc biệt là LS NHT, con chim đầu đàn, Bà phải nói lên “sự thật” cái MLP nầy trước khi quá trể.  Cái giá ôm nó xuống tuyền đài rất là lớn, bà sẽ cảm nhận lúc lâm chung.

 

Với sự hiểu biết hạn hẹp và ở tuổi về chiều trí nhớ cạn kiệt xin mạng phép có vài dòng với Bà về cái MLP nầy.

 

MTGPMN một giả danh, bù nhìn do CSBV dựng lên trong bàn hội nghị Paris.  Phải nói màn dàn dựng nầy là thời “vàng son vinh quang“ nhất trong cuộc đời làm cách mạng của bà.  Bà đóng vai trưởng phái đoàn MTGPMN, mặc chiếc áo dài màu xanh, bới tóc ngồi sau lá cờ mặt trận.  Bà là tiêu biểu “tuyệt vời” của một người phụ nữ miền Nam.  Thế giới vô cùng thán phục!  Rõ ràng chính nhờ cái vai bù nhìn giả tạo nầy đã đưa CSBV lên đỉnh vinh quang ngày 30 tháng 4 năm 1975.Có thể LS NHT đã ý thức rất sâu sắc sự thật nầy mà cảm nhận niềm uất hận vô biên vậy.

 

Ðâu là”sự thật”?  Khi hội nghị bắt đầu, chỉ có 3 bên là CSBV, Mỹ, và VNCH.CSBV quyết tâm đòi cho được có MTGPMN là một bên đàm phán.  Tình trạng dằn co vì sự chống đối quyết liệt của VNCH, đã kéo dài hơn năm trời chỉ vì không nhất trí về cái “bàn tròn bàn vuông”, bất chấp vô số sinh mạng đã chết cho những ngày làm giá dằn co nầy.Cuối cùng, trước áp lực của phong trào phản chiến, Mỹ phải nhượng bộ, nhận là bàn vuông cho 4 bên.  Nhân dân Miền Nam và Hoa kỳ (và TG) bắt đầu thua CSBV từ đây; vì nếu 3 bên, CSBV là xăm lăng không có lý do gì để bộ đội lại, điều mà họ luôn chối cải.Thế rồi HÐ gọi là Hiệp định Hòa bình cho Việt Nam ký ngày 23/1/1973 được Liên Hiệp Quốc (LHQ) chuẩn nhận với 14 nước đại diện. Trong đó có điều khoản toàn bộ quân đội Hoa Kỳ phải rút đi, bộ đội CSBV ở tại chổ, (coi như Hoa Kỳ xác nhận xăm lăng), đúng là một bản án tử hình cho nhân dân Miền Nam, một MLP cho Hoa Kỳ rút quân.Kissinger và Lê Ðức Thọ được lãnh giải Nobel.Thế rồi cái vô cùng bi đát nữa là sau đó Hoa Kỳ cắt toàn bộ viện trợ cho miền Nam.Khoảng 2 năm sau, mùa Xuân năm 1975, CSBV núp sau lá cờ MTGPMN tràn chiếm miền Nam.  Sau đó chỉ 3 tháng, cờ MTGPMN được lệnh hạ xuống và lá cờ ÐCS được “ngạo nghễ” kéo lên khắp nơi.  CSBV hiện nguyên hình là đoàn quân xăm lăng.Cái MLP về vai trò của MTGPMN không còn cần thiết, thật quá tàn nhẫn trắng trợn, không chút tình người, vô văn hóa, không coi công luận thế giới ra gì.TG đã phản ứng ra sao?

 

Thế nhưng lịch sử và VHTT Việt Nam không thể chấp nhận thực tế nầy.Do đó mà “tuồng hát CTVN” chưa thể kết thúc ở đây.Bà và những đồng chí còn lại của MTGPMN, nếu thực sự yêu nước nghĩ mình và những đồng chí đã mất đã bị lừa phải có vai trò lịch sử nào đó trong giai đoạn vô cùng nghiệt ngã của dân tộc.Quý vị phải trở lại sân khấu để kết thúc vai trò MTGPMN sao cho phù hợp với VHTT và lịch sử Việt Nam.  Thưa quý vị, dù  sức lực thể xác không còn, nhưng quý vị hiện có “công lực“ rất lớn là “sự thật”.  Hãy mạnh dạn nói lên “sự thật’”, tất cả “sự thật” như LS NHT đã nói, đặc biệt là cái MLP của hội nghị Paris. Qua đó xin lỗi đồng bào và nhân dân thế giới, đặc biệt là nhân dân Mỹ. Từ đó sẽ nhận thức trách nhiệm mình vô cùng to lớn, cần phải làm gì và đâu là lối thoát xin góp ý ở đoạn sau.

 

d- Sự khác biệt “Hậu Cộng sản” của CSVN và CS Âu Châu - Ðảng Mafia và Chủ Nghĩa Ðô La (CNÐL)

 

Sau khi CNCS phá sản, người CS Châu Âu biết sai lầm, thức tĩnh, sửa sai đi theo xu thế thời đại, dĩ nhiên cũng có một số lợn cợn không đáng kể. Nhưng hầu như không nghe lãnh đạo nào lớn tiếng khẳng định sự “tiến lên con đường XHCN” nữa.  Còn CSVN, CNCS đã phá sản cách nay hơn 20 năm (từ khi mở cửa thị trường 1986), các Tổng bí thư (TBT) mới lên đều lập đi lập lại “Nhất định tiến lên XHCN là con đường của nhân dân và lịch sử ta chọn lựa”.  Gần đây, ngày 28/8/2007, khi phát biểu trước cán bộ lãnh đạo Bộ đội và Công an, CT NMT nói: “Tôi khẳng định trước sau như một là chúng ta tiến lên Chủ Nghĩa Xã Hội, chúng ta phải xây dựng đảng của chúng ta.  Dù ai nói ngã nói nghiêng, dù ai có muốn bỏ điều 4 hiến pháp gì đó thì không có chuyện đó.  Bỏ cái đó đồng nghĩa với chúng ta tuyên bố chúng ta tự sát.  Ông có  thành thật hơn các TBT trước là khẳng định “con đường do Ðảng chọn“ thay vì “nhân dân và lịch sử”. Sự khẳng định nầy vô tình ông khẳng định “sự thật” ÐCS là kẻ thù dân tộc và đi ngược xu thế văn minh của thế giới vậy. Người phương tây cho Ông là có vấn đề lý trí nặng vì thật ra bất cứ ai với suy nghĩ bình thường nào cũng đều không tin tưởng như ông.

 

Ðảng CSVN biến dạng thành đảng Mafia, cai trị với hệ thống luật pháp vô cùng lạc hậu (phát biểu của TL).Bên cạnh luật pháp vô cùng lạc hậu nầy, công an lạm quyền bất chấp luật pháp.Ngoài ra, lại còn dùng “Xã hội Ðen”, thực chất là “Xã hội Côn đồ”, để đàn áp người dân, che mắt thế giới, hành xử như sống giữa rừng xanh, hết sức vô văn hóa. Tiêu biểu là trường hợp của Nguyễn Phương Anh và cụ Hoàng Minh Chính sau khi ở Mỹ về. Trong gần 200 nước trên thế giới ngày nay, khó có một xã hội nào vô luật pháp tồi tệ đến thế, nỗi sợ hãi triền miên trơng nhân dân.

 

Xã hội, cán bộ, người dân chỉ biết cuồng tín chạy theo đô la làm những việc vô cùng tội ác, vô đạo đức (tổ chức vượt biên vô trách nhiệm để hốt vàng, xuất cảng lao động phụ nữ trá hình).  Vô số những hiện tượng hết sức tiêu cực đã trở nên bình thường (nhận định của Trần Quang Thuận).  Cán bộ đảng viên cao cấp, từ hai bàn tay trắng, nay trở nên triệu phú, thậm chí tỷ phú đô la.  Tồi tệ hơn nữa là tình trạng nông dân bị cướp đất cướp nhà, phải đi khiếu kiện hằng chục năm nay, từ Hà Nội vào đến Sài Gòn.  Gần đây, số dân đi khiếu kiện lên đến hằng ngàn và bị đàn áp hết sức dã man (đêm 18/7/2007 ở Văn phòng Quốc Hội 2) mà không được giải quyết.

 

Dân tộc Việt Nam, sau thời gian dài bị biến dị vì VHÐ, nay chồng chất thêm CNÐL thì càng thêm bi đát.  Cái đáng sợ là trong nước do áp lực chế độ, tình trạng biến dị còn hiểu được, thế nhưng ở hải ngoại, đặc biệt là ở Hoa Kỳ, tình trạng biến dị cũng rất đáng ngại qua hai hiện tượng nổi bật không ngờ sau đây:

 

* Truyền thông báo giới CÐ tỵ nạn mặc nhiên cải danh “Người Việt tỵ nạn CS” - một chính danh nói lên đặc điểm bất khuất rất cao quý của VHTT, và chỉ với danh nghĩa nầy mà chúng ta mới được như hôm nay - thành “Việt kiều”.  Chúng ta không quên CSVN đã ra nhiều công sức cùng với trí thức phản chiến Mỹ ở Ðại học Boston để cố thực hiện công trình cải danh “căn cước tập thể người Việt tỵ nạn” thành “Việt kiều”.  Mục tiêu là xóa đi danh nghĩa “tỵ nạn”, tức xóa đi danh nghĩa xăm lăng, không cho nó đi vào lịch sử (đưa đến vụ kiện của Ðại úy Nguyễn Hữu Luyện).  Cùng với mục tiêu nầy mấy năm gần đây các bia tưởng niệm thuyền nhân ở Indonesia, Malaysia cũng bị đập phá.  Và rồi đến Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa cũng cùng chung số phận!

 

* Nhiều trí thức, thậm chí là những viên chức lãnh đạo miền Nam trước đây, những vị giáo sư đại học, những vị lãnh đạo phong trào tranh đấu, tỏ ra thức thời lên án cả hai bên, cho rằng cuộc chiến trước đây là vô nghĩa, nội chiến huynh đệ tương tàn, cuộc chiến ủy nhiệm do chủ nghĩa ngoại lai Nga Mỹ dàn dựng.  Và rồi cuộc đấu tranh dằng dai hiện nay là do hận thù xưa của thế hệ già ở hai bên.  Sau khi thế hệ nầy chết đi, lớp trẻ không dính líu với cuộc chiến không có hận thù sẽ hòa giải với nhau dễ dàng.  Thật vô cùng ngạc nhiên với cái nhìn thay đổi nầy.  Quý vị đã từng kêu gọi trả lại “sự thật” cho lịch sử.  Phải chăng cái nhìn nầy là “sự thật” hôm nay của quý vị?

 

Thế thì tất cả những quân nhân đã nằm xuống ở Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa để ngăn chận CS cùng 5 vị tướng đã tự sát là bị phản bội hay bị lường gạt?  Sau hơn 30 năm, vô số những sự thật phơi bày và nhất là trước thực tế hôm nay, đáng lẽ quý vị phải nhận rõ hơn đâu là chân lý và khẳng định về cái chính nghĩa hy sinh của họ.  Chính nghĩa nầy được nhân dân miền Nam khẳng định ngay sau những ngày CSBV cưởng chiếm miền Nam.  Do đó mà hằng triệu người đã đánh đổi tất cả, kể cả mạng sống, để ra đi.  Và nhất là sau ¼ thế kỷ lưu vong, đại bộ phận người Việt tỵ nạn ở Little Sài Gòn đủ tỉnh táo để, một lần nữa, khẳng định hết sức hùng hồn qua BCTT mùa Xuân 1999.

 

Thưa không, những chiến binh của miền Nam đã hy sinh vì bị phản bội chứ không bị lường gạt.  Vong linh họ không chút ân hận và oan ức và đã siêu thoát từ lâu rồi.  Họ không cần phải giải oan, vì như thế có thể sẽ gây uất hận cho họ, nhở họ chưa siêu thoát sẽ đội mồ lên, tạo thêm nghiệp cho mình.  Có oan phải giải là những đảng viên bộ đội, vì chính họ mới chết oan vì bị lường gạt, chính họ mới hy sinh cho cuộc chiến phi nghĩa, ủy nhiệm, huynh đệ tương tàn.  Không có sự chọn lựa cho người lính miền Nam.  Quý vị cũng từng lo ngại rằng những thế hệ sau tỵ nạn quên đi cội nguồn; nhưng chưa chi, chính quý vị đã quên đã phản bội danh nghĩa “người Việt tỵ nạn CS” của chính mình.

 

Xin miễn có ý kiến về chủ trương “hòa giải, hòa hợp” của quý vị.  Nhưng bóp méo “sự thật” về cuộc chiến cũng như “sự thật” về hận thù là cái giá khá đắt cho người TT đấy!

 

Quý vị nghĩ thế nào về việc Tôn Nữ Thị Ninh, Chủ tịch Ðối ngoại Quốc hội CSVN, cách đây không lâu, đã mạnh dạn phát biểu sau khi có NQ 36, đại khái như sau: Rồi đây với phương tiện dồi dào, NQ 36 sẽ mua đứt tất cả truyền thông báo giới hải ngoại và đánh gục những thằng chống cộng hăng nhất!”. 

 

Hai hiện tượng trên rõ ràng là thành quả chiến lược không ngờ của NQ 36 và là thiệt hại hết sức lớn lao cho công cuộc đấu tranh của dân tộc vô cùng gay hiện nay, nó còn nguy hại hơn là sự quay lưng của Ðồng Minh của “Cộng Ðồng Thế Giới”

 

 

Sinh Lộ Cho Quê Hương: Ðốt Thẻ Ðảng, Nhận Thức Lại.

 

a. Ðốt thẻ Ðảng (ÐTÐ), diệt trừ sợ hãi, mọi sự thật phơi bày, giải thể ÐCS.

Sinh lộ cho các dân tộc dưới sự cai trị của ÐCS không thể có với sự tồn tại của ÐCS.  “Sự thật” là công lực đích thực để giải thể nó, kết quả sớm muộn tùy theo văn hóa mỗi dân tộc và tính đặc thù trong sự hình thành của nó.

Trường hợp đặc thù sự hình thành ÐCSVN và với VHTT, sinh lộ nầy lại càng khẳng định hơn.  Ðúng vậy, không có chế độ CS nào trên thế giới thành công như trường hợp CSVN. Nổi bật là những đặc điểm sau đây:

 

- Thứ nhất: Thực chất là sự lừa bịp, lợi dụng truyền thống bất khuất, tinh thần yêu nước vô bờ bến của dân tộc và tình trạng nô lệ hết sức dã man thực dân Pháp suốt gần 100 năm đánh lừa “yêu đảng là yêu nước, yêu dân tộc” hết sức trắng trợn.

 

- Thứ hai: Xã hội miền Nam mà nó lật đổ là một xã hội văn minh và đang đi lên cùng với xu thế của TGTD so với xã hội dưới chế độ CS miền Bắc, một cách biệt “như trời với đất” (DTH).

 

- Thứ ba: Ngày hôm nay, sau 32 năm dưới sự thống trị của CS, xã hội băng hoại trầm trọng, con người mất hết phẩm giá và đạo đức, một chế độ cực kỳ lạc hậu.

 

Trước tình hình hiện nay, sự cáo chung của ÐCS là hiển nhiên. Có thể vì thế mà có dư luận đổi tên Ðảng để tẩy xóa danh từ CS. Danh từ nầy đã được HCM mang vào, thành lập ÐCSVN qua nhiều lần đổi tên (ÐCSVN, ÐCS Ðông Dương, Ðảng Lao Ðộng Viêt Nam rồi trở lại ÐCSVN).Cốt lỏi của vấn đề không phải là thay tên, mà là giải thể càng sớm càng tốt cho quê hương.

 

Có 4 khả năng tùy theo mức độ thực sự yêu nước của các đảng viện:

a.       Ðẹp nhất cho dân tộc là lãnh đạo cao cấp nhất của Ðảng thực sự thức tĩnh tuyên bố giải tán Ðảng. Nhưng đây là ảo tưởng.

b.       Lãnh đạo không thuộc hạng cao cấp thực sự thức tĩnh, hành sử như Yeltsin. Có lẽ không thực tế, lý do thứ nhất hầu hết cấp nầy quyền lợi gắng liền với Ðảng, lý do kế là tạo xáo trộn đổ máu không ai chấp nhận.

c.       Khả năng thứ 3, khả thi nhất là sự thức tĩnh của tầng lớp đảng viên yêu nước thực sự ý thức mạnh mẽ ÐCS là đảng tội ác phản bội dân tộc và quê hương nhận thấy trách nhiệm lớn lao của mình mà phát động Phong Trào Ðốt Thẻ Ðảng (PTÐTÐ), hóa giải công lực Ðảng. Ðồng thời đồng bào hãy đừng sợ hãi nữa phát động phong trào tẩy chay Ðảng, tẩy chay đảng viên, bất hợp tác mọi sinh hoạt. Chỉ có ÐTÐ người đảng viên mới nói lên sự thật tâm trở về với cộng đồng dân tộc và là lối thoát tốt nhất cho quê hương.

d.       Nếu được sự hưởng ứng tích cực của đảng viên thì sẽ rút ngắn thời gian khổ nạn cho đồng bào, sự tàn phá xã hội và đất nước nhất là tránh nguy cơ nô lệ TQ. Nếu không thí chăc chắn nhân dân sẽ phải đứng lên làm nhiệm vụ lịch sử vậy. Lịch sử và VHTT VN không chấp nhận hình thức cai trị của ÐCSVN. Những tổ chức đấu tranh, mà mục tiêu là “Bỏ Ðiều 4 Hiến pháp” hoặc “Ða nguyên đa đảng”, đừng quên rằng ÐCSVN vẫn tồn tại và là đảng hợp pháp để tranh cử, không đảng nào có khả năng đối đầu vì tiền rừng bạc biển, thành tích gian trá, và sự biến dị của người dân. Không thấy trước nó sẽ trở thành hợp pháp cai trị lâu dài mà đắc tội vậy.

 

 Thành phần nào có khả năng là tiền phong phát động PTÐTÐ

Thưa quý vị đảng viên kỳ cựu yêu nước, đặc biệt quý vị đảng viên gốc miền Nam, quý vị có gia đình nạn nhân của cuộc “Cải cách ruộng đất”, có gia đình di cư.  Không ai nghi ngờ quý vị vì tinh thần yêu nước mà đã trở thành đảng viên, nguyện suốt đời phấn đấu và hy sinh cho Ðảng. Có thể nói, quý vị là thành phần nạn nhân chịu nhiều nghiệt ngã nhất do sự phản bội của ÐCS.Ở mỗi diện, sự uất hận có đặc thù xé ruột riêng của nó. Bên cạnh là những đảng viên kỳ cựu trong Quân Ðội Nhân Dân (QÐND), sự hy sinh vô bờ bến của quý vị rõ ràng đã bị phản bội lừa bịp trắng trợn. Sự khẳng định trên đây của NMT là khẳng định ÐCS là kẻ thù của dân tộc “Hủy bỏ Ðiều 4 là tự sát”. Hủy bỏ Ðiều 4 là đưa ÐCS ra trước Tòa Án Nhân Dân vậy. Tiếng gọi non sông hôm nay còn khẩn thiết hơn ngày xưa nhiều. Còn chút sáng suốt ở tuổi về chiều, không cho phép quý vị bình thản ôm thẻ đảng đến khi nhắm mắt đi vào lịch sử muôn đời là thành viên của Ðảng sẽ phải ân hận lúc lâm chung. Như thế mới nói lên cái vai trò lịch sử của quí vị vậy.

 

Ngày 12 /12/ 07, Ðại Tướng Nguyễn Khánh, phổ biến bức “Tâm Thư” gửi toàn thể đồng bào kêu gọi thành lập “Hội Ðồng Ðoàn Kết Dân Tộc”gồm Quân Ðội VNCH,Quân Ðội Nhân Dân BV, và MT. Một sáng kiến rất nên suy nghĩ đóng góp. Có người cho ngay rằng “Hầu hết những người thuộc 3 lực lượng nầy giờ đây ở tuổi hưu”. Ý nói  còn sức lực đâu nữa. Tôi không đồng ý. Với tôi cái mạnh của những vị nầy là cái “nhận Thức” hôm nay của quý vị vô cùng quý giá mà tuổi trẻ không làm sao có và “ Sinh lộ cho quê hương” là “Sự Thật” chớ không phải vũ lực. Những vị ở tuổi về chiều thuộc 3 lực lượng nầy là nắm giữ nhiều “sự thật”quý giá nhất mà lịch sử không thể thiếu vậy. Tuy nhiên muốn có kết quả phải có sự đối thoại thực sự.Ðối thoại thực sự chỉ có ở những người có tư cách, không cường điệu, biết lắng nghe và trên hết phải cùng một mục tiêu.Ba lực lượng nầy là nạn nhân lừa bịp của ÐCS. Thành tích tráo trở, gian trá của người đảng viên CS không làm sao biện minh.Do đó, xin mạo muội có ý kiến, vì hoàn cảnh nghiệt ngã của dân tộc và để có lối thoát cho quê hương quý vị đảng viên chứng tỏ sự thành tâm trở về với Cộng Ðồng Dân tộc bằng hành động tham gia PTÐTÐ sẽ đủ tư cách để cùng nhau đối thoại vậy.

 

b. Nhận thức lại, giải trừ VHÐ, trở về VHTT.

Khi mọi “sự thật“được phơi bày, vấn đề quan trọng là cần nhận thức lại.

Ðảng viên thật sự yêu nước cần can đảm một lần nhìn thẳng vào “sự thật”, điều chỉnh nhận thức mình; không đơn giản cho những đảng viên lớn tuổi, nhưng không có sự chọn lựa. Hầu hết những người lính trẻ trong đoàn quân chiến thắng sau 30 tháng 4, ngỡ ngàng trước thực tế của xã hội miền Nam, đều cảm thấy không ổn về nhận thức của mình.  Tiêu biểu là DTH phải ngồi khóc bên lề đường khi vào thành phố Sài Gòn vì tuổi xuân phí phạm; KS Ðỗ Nam Hải, du học sinh Úc Châu tự thú: “Càng tìm hiểu sâu rộng, tôi lại càng phát hiện ra nhiều điều mâu thuẩn giữa thực tiển cuộc sống đang diễn ra xung quanh với những gì mà từ nhỏ tới lớn mình vẫn được tuyên truyền, giáo dục.  Ðúng là phải nhận thức lại...”

Nhận thức không thay đổi sẽ lạc hậu ngay.DTH rõ ràng là đảng viên có thể nói là thức tĩnh sớm nhất nhưng với nhận thức “Sau chiến tranh, một bên là mù quáng tiếp tục cuộc chiến vì hận thù quá khứ” đã bị lạc hậu khi theo dỏi tuổi trẻ đấu tranh trong nước. Tiêu biểu nổi bật là LS Lê Thị Công Nhân,28 tuổi, sanh năm 79, có liên cang gì với cuộc chiến cũ, phát ngôn nhân cho đảng Thăng Tiến đấu tranh vì Nhân Quyền, Tự Do và Dân Chủ thông báo với đồng bào khi bị bắt đêm 30 Tết 2007 như sau:

 

“Bằng tất cả lương tâm, trách nhiệm và tình cảm của mình đối với đất nước và dân tộc Việt Nam. Tôi khẳng định rằng: Tôi sẽ chiến đấu tới cùng cho dù chỉ còn lại một mình tôi trong cuộc đấu tranh vì Nhân Quyền , Tự Do và Dân Chủ cho Việt Nam

“Tôi không thách thức, nhưng CSVN, nếu hạ quyết tâm thực hiện những hành vi tội ác bằng cách chà đạp lên Nhân Quyền của người dân Việt Nam, và muốn tiếp tục dìm đất nước Việt Nam vào tăm tối về mặt chính trị, nghèo nàn về mặt kinh tế, lạc hậu về mặt văn hóa kéo dài cho đến đời con cháu,thì tùy họ cứ việc hành sử với những gì họ có.”

“ Tôi có thể bị khởi tố và có thể bị đi tù, nhưng tôi quyết tâm tranh đấu vì Dân Chủ, Nhân Quyền và Tự Do Việt Nam. Cuộc tranh đấu nầy hoàn toàn xuất phát từ niềm tin, từ lương tâm va trách nhiệm của tôi đối với chính tôi và với Dân tộc Việt Nam

Thật như gáo nước lạnh xối vào những ai cố tình cho rằng cuộc chiến vì quá khứ, vì hân thù nội chiến ngày xưa.Rõ ràng nó phát xuất từ dòng máu của con người Việt Nam.Phải chăng qúy vị cho rằng sau khi tất cả những người trong cuộc chiến cũ đều chết đi, toàn dân sẽ khuất phục không có cuộc đấu tranh nữa sao?.

Sau khi nhận thức lại sẽ giải trừ VHÐ tức VH Việt gian, sẽ cùng nhìn thấy một “sự thật”: “sự thật”  cuộc chiến trước đây, “sự thật” cuộc đấu tranh hiện nay và đâu là “hận thù” và cùng nhau trở về với VHTT là “Sinh Lộ Cho Quê Hương”  vậy.

 

 

Kết luận

 

Rõ ràng ÐCSVN sống còn và có khả năng kéo dài là do sự biến thể thành Ðảng Mafia theo CNÐL được Hoa Kỳ và một “Cộng Ðồng Thế Giới chệch hướng” (TG) yểm trợ (xin xem tiếp Phần II). Thật vô cùng khó khăn,phức tạp.Nhưng “Hồn Thiêng Sông Núi Còn” chân lý lịch sử “Dân tộc VN vô địch trước mọi kẻ thù” vẫn là chân lý. Do đó phải biết lấy sức mình vậy. “Sự thật” “chính nghĩa” “thời gian” về phía chúng ta. Cái đáng sợ là sự biến dị ở mỗi chúng ta. Mình chỉ thua vì sự biến dị nầy, giải trừ sự biến dị, trở về với VHTT chúng ta không thua bất thứ kẻ thù nào.

 

Tiềm năng đấu tranh “Giải thể ÐCS” của Hải ngoại còn rất lớn lao, khai thác triệt để sức mạnh “sự thật”.  Lợi dụng tình hình, bằng Kỹ Nghệ Thông Tin phổ biến càng nhiều càng tốt những “sự thật” đã bị bưng bít, những “sự thật” về ÐCSVN về trong nước. Nghiên cứu khả năng thành lập thư viện nhà sách trang bị đầy đủ, yểm trợ xuất bản những tác phẩm bị cấm, phục hồi VHTT, nhất là TT đã bị VHÐ triệt tiêu.

Luật sư đoàn Hãi Ngoại tích cực yểm trợ luật sư trong nước thành lập luật sư đoan đúng nghĩa, hành sử đúng chức năng mình, áp lực nhà cầm quyền thực hiện “xã Hội Pháp Trị”

 

Nguyễn Diệp Phong

Rncho Sta Margta, Mùa Giáng Sinh 2007

 

 

 

 

 

SINH LỘ CHO QUÊ HƯƠNG (PHẦN II):

ÐẠO ÐỨC SUY ÐỒI, ÐỘC TÀI CUỒNG TÍN,

SỰ CHỆCH HƯỚNG CỦA THẾ GIỚI

 

Nguyễn Diệp Phong

 

 

Ðạo đức suy đồi, độc tài cuồng tín, sự chệch hướng của thế giới là nguyên nhân đích thực của khổ nạn triền miên của con người và thảm họa nhân loại.  Công lực đích thực giải trừ không phải là ý thức hệ, chủ thuyết, vũ lực hay phát triển mà là “sự thật”, “lẽ phải” và “sự trở về nguồn cội”, sứ mạng của người Trí thức Chân chính.

 

 

Nhơn chi sơ tánh bổn thiện

 

Người xưa thường nói “Nhơn chi sơ tánh bổ thiện”, ý nói thuở ban đầu con người là thiện lành.  Qua thực tế đúng là sự thật.  Ðây cũng là thuyết giảng của Thầy Lý Hồng Chí, Thầy thấy rằng “Sanh mạng con người phát xuất từ trong vũ trụ, có bản chất lương thiện”. Nhưng khi có nhiều sanh mạng phát sanh ra thì có liên hệ xã hội tập đoàn, xã hội càng ngày càng phát triển đông đảo, con người xa cội nguồn trở nên biến dị, tham lam, ích kỷ, đạo lý suy đồi càng ngày càng trầm trọng, làm giàu bất chính.

 

Chủ nghĩa Thực dân và Việt Nam

 

Ðạo lý suy đồi càng ngày càng trầm trọng, lòng tham không đáy đưa đến Chủ nghĩa Thực dân (CNTD),những nước lớn xăm chiếm các nước nhỏ làm thuộc địa,bốc lột hết sức dã man.  Cao điểm là thời kỳ trước Ðệ II Thế chiến (ÐIITC).

 

Vào giữa thế kỷ thứ 19, Pháp xăm chiếm và đô hộ Việt Nam (VN).  Dân tộc VN bị bốc lột đến tận xương tủy ròng rã đến ÐIITC thì Phát xít Nhật chiếm Ðông Dương (ÐD), đảo chánh Pháp, cướp chánh quyền.  Dân tộc VN giờ đây bị “một cổ hai tròng” suốt bốn năm (1941–1945) lại càng thống khổ tột cùng.  Ðặc biệt trong thời gian nầy, năm 1945, cùng với sự oanh tạc của Ðồng Minh và sự cai trị vô cùng độc ác của Nhật, dân tộc VN bị chết đói hơn 2 triệu người trong một dân số khoảng 20 triệu, thật là không thể tưởng tượng.  Nghe những người lớn tuổi kể lại, cứ mỗi sáng mở cửa ra  thấy xác chết rải rác trên đường!

 

Thế rồi sau khi ÐIITC kết thúc, Nhật đầu hàng, CNTD phá sản.  Ðây là cơ hội ngàn vàng cho dân tộc VN được độc lập, sau gần suốt 1 thế kỷ đấu tranh như trứng chọi đá, vô cùng gian khổ. Ðồng Minh (ÐM) tức Thế giới Tự do (TGTD) vô cùng tàn nhẫn chủ trương đưa Pháp trở lại với lý do ngăn chận CNCS.  Thực chất là Tư bản Bất chánh (TBBC) thuộc “trường phái đạo lý suy đồi”, chỉ biết chạy theo Chủ nghĩa Ðô la (CNÐL), tiếp tục khai thác tình hình mới, núp dưới chiêu bài chống cộng đưa đến chạy đua vũ trang, làm bộc phát cái gọi là “Chiến tranh Việt Nam” (CTVN).

 

Chạy đua vũ trang

 

Ðối đầu với CNCS (cộng chung tài sản) đích thực là Chủ nghĩa Tư sản (CNTS) hay Tự do, một tất yếu phát triển tiến hóa của nhân loại.  CNCS, cũng như những chế độ độc tài, tôn giáo cực đoan, cuồng tín, thực chất công lực, sức mạnh của nó là sự dối trá, lừa bịp mù quáng con người, không biết đâu là “sự thật”, đâu là đúng đâu là sai theo Văn hóa Truyền thống (VHTT) của mình.  Do đó “sự thật” hóa giải nói dối lừa bịp, hóa giải mù quáng, nhận ra “sự thật” là công lực đích thực giải trừ, chớ không phải là vũ lực. Ðây là “sự thật” là chân lý.  Rất tiếc TGTD hay Hoa Kỳ không ý thức được chân lý nầy nên đã đi chệch hướng.  Kết quả không giải trừ được khổ nạn đích thực CS mà lại gây tác hại ghê gớm cho nhân loại.  Trường hợp giống như chẩn sai bịnh, cho không đúng thuốc, sự trầm trọng là do sai thuốc.  Chủ trương dùng vũ lực, đưa đến chiến tranh lạnh, sản xuất vô số vũ khí giết người càng ngày càng tối tân trong gần 10 năm trời vô cùng nguy hiểm, phí phạm tài nguyên. Sản xuất rồi phải sử dụng, tạo chiến tranh!

 

Một dẩn chứng rõ nét vũ lực không phải là vũ khí để giải quyết vấn nạn CS là CTVN. Sự đối đầu tiêu biểu nhất giữa CNCS và phe Tư bản (TB) hay TGTD, đặc biệt là Hoa Kỳ, phải nói là CTVN.

 

CTVN đối với Hoa Kỳ

 

Công luận Mỹ thường xem CTVN bắt đầu từ năm 1960, tức thời Kennedy khi ông đưa đoàn quân cố vấn sang giúp VN.  Thực ra thảm họa CS bùng phát ngay sau ÐIITC, và Hoa Kỳ, dù muốn dù không là cường quốc lãnh đạo TGTD có trách nhiệm hàng đầu để ngăn chận thảm họa nầy.  Do đó Hoa Kỳ bắt đầu liên can vào VN để ngăn chận làn sóng đỏ kể từ sau Ðệ IITC.  Ðây cũng là nhận định của Tổng thống (TT) Nixon trong “No More Vietnam”.  Ông cũng cho CTVN là ÐIIITC, vì ngoài Hoa Kỳ còn có Thái Lan, Ðại Hàn, Úc, Philippines, Tân Tây Lan, tất cả là 7 nước.  Cuộc chiến ròng rã 30 năm (1945-1975) trải qua 6 đời TT: Roosevelt, Truman, Eisenhower, Kennedy, Johnson và Nixon. Ðúng ra đến đời Nixon, CTVN chỉ kết thúc với Hoa Kỳ; còn với dân tộc VN, cuộc chiến vẫn còn và day dẳng đến hôm nay chưa dứt.  Nhân dân Hoa Kỳ đã hy sinh vô cùng to lớn cho cuộc chiến nầy.  Thế nhưng thật đau xót hơn 30 năm đã trôi qua sau khi cuộc chiến kết thúc mà nhân dân Hoa Kỳ vẫn chưa quên, chưa thể đóng lại cuộc chiến này, trải qua sự trầm trọng  triền miên “hội chứng CTVN”.  Lý do là vì người dân Mỹ vẫn chưa thấy đâu là “sự thật”, chưa rút ra được bài học nầy.  Cho mãi đến mới vừa đây, qua cuộc phỏng vấn của đài RFA 5/7/2006, Giáo sư Larry Berman mới nói lên, thiết nghĩ là một sự thật vô cùng quan trọng cho nhân dân Mỹ: Có rất nhiều sai lầm trong chính sách mà Washington cho thực hiện ở Việt Nam.  Việc đưa hơn nửa triệu quân vào miền Nam là một quyết định sai lầm…  Nhìn lại lịch sử, chúng ta thấy việc cam kết giúp miền Nam sống còn, ổn định, là lời cam kết chính đáng, có mục tiêu chính nghĩa.  Nhưng cuối cùng thì kế hoạch được thực hiện hoàn toàn sai, vì trước năm 1963, Chính phủ miền Nam lúc đó chủ trương nhận viện trợ của Hoa Kỳ, nhận để Hoa Kỳ giúp huấn luyện quân đội, nhưng duy trì quyền tự quyết.  Tôi nghĩ rằng đó là chính sách tốt nhất để miền Nam có thể thành công.”

 

Hoa Kỳ bắt đầu liên can vào VN từ thời TT Roosevelt, khi vừa mới đắc cử nhiệm kỳ thứ tư (1944).  Cố TT Roosevelt là một vị lãnh đạo rất sáng suốt, đúng là một trí thức chân chính, vô cùng quý giá, không những cho nhân dân Hoa Kỳ mà cho thế giới.  Ông nhận thức ba vấn nạn thế giới lúc bấy giờ là Thực dân, Phát xít, và CNCS.  Hoài bão hàng đầu của ông là hình thành Liên Hiệp Quốc (LHQ), trước mắt là giải trừ CNTD, sau ÐIITC sẽ không còn thuộc địa nữa.  Ông cảm nhận rất sâu sắc khổ nạn tột cùng của dân tộc VN sau gần 100 năm dưới sự bốc lột đến tận xương tủy của của thực dân Pháp.  Ðể ngăn ngừa làn sóng CS đang bành trướng ở Trung Hoa và sẽ tràn xuống ÐD, và đồng thời thực hiện chủ trương giải thực, ông quyết tâm không cho Pháp trở lại ÐD sau ÐIITC.  Ðây thật là cơ hội ngàn vàng của dân tộc VN.  Ông ý thức rất mạnh mẽ chính quyền tự quyết dân tộc là phương sách hữu hiệu để ngăn chận làn sóng đỏ. Ông nhắc lại ý định nầy ở Hội nghị (HN) Cairo, Teheran, và Yalta.  Ông quyết tâm để Anh và Trung Hoa giải giới Nhật thay vì Pháp.  De Gaulle cấu kết với Churchill chống chủ trương giải thực của ông.  Rất tiếc ông mất ngày 4/22/1945, chỉ phục vụ được có 5 tháng ở nhiệm kỳ nầy, khi ÐIITC chưa kết thúc.  (VLBO, Chương Roosevelt và Truman, Nguyễn Kỳ Phong).  Những vị TT kế nhiệm không lĩnh hội tư tưởng của ông.  TT Truman không quyết liệt thực hiện chủ trương giải thực đưa đến CTVN với Pháp, Mỹ đài thọ 80% chiến phí cho Pháp từ 1950 đến 1954, Pháp phải đầu hàng qua trận Ðiện Biên Phủ (sau khi thiệt mất 149.000 quân).  Ðiều quan trọng là sự sai lầm nầy tạo điều kiện cho CNCS phát triễn và chiếm miền Bắc VN.  Hiệp định (HÐ) Genève là HÐ giữa Pháp (tức TGTD) và CS để cho Pháp rút quân.  Cuối cùng đến đầu năm 1973, 19 năm sau Hoa Kỳ phải ký HÐ Paris rút quân, sau khi thiệt mất 58.000 quân.  Rõ rang, nếu theo chủ trương của TT Roosevelt thì không có thảm họa nầy.

 

Về sau cố TT Kennedy ý thức được “sự thật”, chia sẻ quan điểm của TT Roosevelt.  Khi là dân biểu đi thăm VN vào tháng 11 năm 1951, trong buổi họp tại tòa đại sứ Mỹ ở Sàigòn, ông luôn miệng hỏi làm cho Ðại sứ Health rất khó chịu: ”Tại sao người Việt phải chiến đấu bên cạnh người Pháp để Pháp giữ quê hương họ như là một thuộc địa? Tại sao chúng ta phải hùa theo người Pháp, một quốc gia đang cố gắng nắm giữ tàn tích đế quốc ở ÐD?” (trang 76, VLBO).

 

TT Kennedy rất dứt khoác với quan điểm nầy trong suốt nhiệm kỳ (1960-1963).  Trong mỗi lần họp Hội đồng An ninh, ông luôn khẳng định: Cuộc chiến này là của nhân dân VN.  Chỉ có họ mới có thể thắng cuộc chiến này.  Nếu có thua là định mệnh họ thua.  Mỹ không thể thay họ để thắng. Việc làm tối đa của nhân dân Mỹ là yểm trợ cố vấn và tiếp liệu.”  Ông bác bỏ mạnh mẽ áp lực đưa quân Mỹ tham chiến, vì cho đây là sai lầm trầm trọng không thể chấp nhận.  Ngày 10/2/1963 ông loan báo kế hoạch rút đoàn quân cố vấn, khởi đầu 1.000 quân trước cuối năm 1963 và sẽ hoàn tất trước 1965 (trang 79, In Restropect, McNamara).  Ngày 11/22/1963, ông bị ám sát.  Chính sách của ông là đúng đắn, như nhận định của Larry Berman, nhưng ông có trách nhiệm về cái chết của TT Ngô Ðình Diệm (NÐD).

 

Rất tiếc, Johnson kế nhiệm, không rút kinh nghiệm người đi trước, đi chệch hướng.  Ngày 11/24/1963, ông nhấn mạnh với ông Lodge, Ðại sứ Mỹ ở VN, chính sách là phải thắng cuộc chiến nầy, đảo ngược 180 độ chính sách Kennedy với Nghị định An ninh NSAM 273 (trang 102, In Restropect, McNamara), chỉ trong vòng không đầy 2 tháng kể từ ngày 10/2/1963, ngày Kennedy loan báo rút quân.  Thế rồi ngày 8/3/1965, hai tiểu đoàn Thuỷ quân Lục chiến Mỹ đổ bộ lên Ðà Nẳng với nhiệm vụ tác chiến, điều tối kỵ đối với Kennedy mà McNamara phải biết qua những buổi họp an ninh (In Restropect).  Số quân được ồ ạt đổ vào, biến CTVN thành chiến thành chiến tranh của Mỹ, làm bộc phát phong trào Phản chiến.  Ðây là một quyết định định mệnh cho cả hai dân tộc Hoa Kỳ và VN, mà Quốc hội Hoa Kỳ cần phải học kinh nghiệm vì đã thông qua Nghị quyết vịnh Bắc Việt (Tonkin Resolution).   Nhưng phải chăng Larry Berman vẫn chưa thấy hết sự thật và nói lên được bài học khi ông nêu việc “Mỹ đã đưa hơn nửa triệu quân vào VN và 58.000 quân hy sinh” để chỉ trích nhận định của nhiều người VN, mà ông cho là sai lầm, khi nói rằng người Mỹ không thật tình quyết tâm hoàn thành mục tiêu chính trị “độc lập, tự do cho VN.”

 

Bài học cho nhân dân Hoa Kỳ (TGTD)

 

Hôm nay nhìn lại CTVN đối với Hoa Kỳ. Sự thật phải công nhận là Hoa Kỳ và TGTD đã thảm bại trong cuộc chiến nầy.  Hiểu khác đi nào là “chiến lược toàn cầu”, nào là “quyền lợi quốc gia”… để biện minh cho sự thảm bại là không ổn, không thấy “sự thật”, không rút ra được bài học.  Một số suy nghĩ về bài học xin mạo muội chia sẻ:

 

1. Xuyên qua cuộc chiến Hoa Kỳ và TGTD không thấy “sự thật” của CTVN, ngoại trừ cố TT Roosevelt và Kennedy. Từ đó, sức mạnh đích thực để ngăn chận CS là quyền tự quyết dân tộc. Johnson ào ạt đổ quân vào là bắt đầu triệt hạ sức mạnh nầy và bắt đầu thua, khi Nixon mật đàm với CSBV là thua nặng.

 

2. Người đi sau không học bài học, nhận thức của người đi trước.  Ðức Ðạt Lai Lạt Ma thường nói: “When we loose, don’t loose the lessons”.Năm 1954 không những Pháp thua, mà Hoa Kỳ và TGTD đã thua, vì CS đã chiếm phân nửa VN.  Rồi cứ tiếp tục “loose” năm 1975 dâng cả nước VN cho CS.

 

3. Binh thư Tôn Tử lại nói: “Biết người biết ta trăm trận trăm thắng, biết ta mà không biết người trăm trận trăm thua”. Hoa Kỳ không biết “Ta” mà cũng không biết “Người”. Yếu tố “Ta” đây, quan trọng nhất là “dân tộc VN”, mà đặc điểm là truyền thống bất khuất, lịch sử đã ghi rất rõ. Còn “Người” là CSBV, đâu là sức mạnh của nó? Xin xem Phần 2

 

Ðây là sự thiếu sót lớn của những thức giả TT Mỹ; đáng lý ra “sự thật” nầy phải được nói lên từ lâu, trể nhất là khi Johnson tuyên bố bỏ cuộc không ra ứng cử nữa!

 

Hy vọng những suy nghĩ mạo muội trên đây đóng góp phần nào việc nhận ra”sự thật” CTVN, nếu né tránh, nhân dân Mỹ sẽ phải trả cái giá triền miên không biết đến bao giờ vậy.

 

Ðạo lý nhân loại xuống dốc đến bao giờ? Sự chệch hướng của Thế giới

 

Vì lòng tham và đạo đức suy đồi, thế giới trải qua CNTD, rồi CNTD phá sản lại biến dạng thành TBBC cuồng tín chạy theo đô la (CNÐL) làm giàu.  Ðạo lý càng ngày càng xuống dốc thêm, bên cạnh đó, do không nhận ra “sự thật” khổ nạn nên thế giới đi chệch hướng, không giải trừ khổ nạn  mà lại hóa ra đồng lỏa với “trường phái đạo lý suy đồi” (ÐLSÐ). Thầy Lý Hồng Chí nhận định rằng, hiện nay đạo lý nhân loại đang tuột dốc đến mức vô cùng nguy hiểm.

 

a. LHQ – Sau khi Nhật đầu hàng, ÐIITC kết thúc, TGTD biểu tượng là LHQ không những không làm tốt chức năng, hoài bão của người sáng lập mà còn đi chệch hướng, can dự sai lầm vào CTVN.  Ðây là thời cơ ngàn vàng cho dân tộc VN độc lập, thực hiện quyền Dân Tộc Tự Quyết.  Chính sự chệch hướng duy trì sự hiện diện của Pháp làm cho CS phát triển và đưa CSVN qua những “hào quang” với hai hội nghị: HN Genève, 1954, thực chất là HN giữa Pháp và CS (hào quang thắng Pháp), rồi đến 1973, thực chất là HN giửa Mỹ và CS, hào quang thắng Mỹ.  Dân tộc VN chính danh đã bị gạt qua bên lề mọi cuộc trao đổi!

 

Lãnh đạo LHQ không thể không hiểu “sự thật” CTVN, không thể không nhận diện CSVN.  Thật khó hiểu về việc hành xử của 14 nước đại diện LHQ chuẩn nhận HN Paris, hợp pháp hóa sự xăm lăng của CSBV, một tội ác.  Rồi Kissinger và Lê Ðức Thọ được giải thưởng Hòa bình! Ðâu là tiêu chuẩn cao quý của giải thưởng nầy? Quý vị có thật sự tin là HN Paris đem lại hòa bình cho dân tộc VN không? Sau đó, những gì xảy ra cho nhân dân Việt Nam. Mỹ rút quân, CSBV xé bỏ HÐ Hòa Bình, chiến tranh gia tăng ác liệt, Mỹ cắt toàn bộ viện trợ, Miền Nam thất trận, người dân chạy tán loạn như một trận Ðại Hồng Thủy, biến thành nhà tù vĩ dại!...Năm 77 LHQ thu nhận CSVN là thành viên chính thức. Thật vô cùng khó hiểu, đâu là công lý, là đạo lý! Rồi lại thảm trạng Biển Ðông.  Hai năm sau khi là thành viên, 1979 Việt Nam lại xăm lăng Kampuchea! 

 

Thế rồi hôm nay, hơn 30 năm trôi qua ròng rã những gì xảy ra cho đất nước và dân tộc Việt Nam, tưởng rằng thời gian và thực tế quá đủ để LHQ, Hoa Kỳ và TG thức tĩnh nhận thức đâu là “sự thật”. Ngày 10 / 25 /07, toàn bộ HÐBA 19 phiếu thuận, nhất trí thông qua sự gia nhập của CSVN là thành viện không thường trực HÐBA, thật vô cùng khó hiểu. Không một thành viên nào nhận diện CSVN mặc dầu TG đã  trả cái giá quá đắc để ngăn chận nó và cũng không một thành viên nào thấy đâu là khát vọng của dân tộc VN.

Ðâu là hoài bão của Cố TT Roosevelt, một thành viên có công đầu sáng lập LHQ. Vong linh ông còn hiển linh chắc phải vô cùng thất vọng thấy LHQ đã trở thành như “trò đùa”. cho CNÐL. Hiến Chương Quốc Tế Nhân Quyền thiết lập cách nay đã 59 năm, một văn kiện Quốc Tế, một công sức thành quả vô cùng quý giá, một hoài bão hàng đầu của những vị sáng lập đã bị vứt vào xọt rác. Nếu thực thi nghiêm chỉnh, những mầm móng độc tài đã bị triệt tiêu ngay từ trong trứng nước bởi chính nhân dân của nước đó vậy.  Không cần dẫn chứng ÐCSVN thực chất là một đảng cướp, khủng bố, là thủ phạm vô số những chiến sĩ tự do nay lại hầu hết lãnh đạo hàng đầu thế giới mở cửa đón tiêp nó bình thường.

Nếu tôi nhớ không lầm và nhận định không chủ quan thì sau HÐ Genève, trong bối cảnh VN lúc bấy giờ, CNCS mặc chiếc áo VM yêu nước ảnh hưởng rất mạnh.  Do đó, mục tiêu số 1 cho Vatican và Hoa Kỳ là người lãnh đạo miền Nam phải có lập trường chống cộng triệt để. Cụ NÐD đáp ứng sứ mạng nầy, và nay dân tộc VN vẫn kiên trì đấu tranh vô cùng gian khổ trong sứ mạng nầy. Thế mà hôm nay Tòa Bạch ốc và Vatican lại mở cửa đón tiếp Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng CSVN. Dù muốn dù không đây là thành tích quá lớn không ngờ giúp nó mạnh tay đàn áp vì cho là mình đi đúng đường và là thiệt hại không nhỏ cho phong trào chống đối.

 

b. Vũ lực - Một dẩn chứng rõ nét nhất của sự chệch hướng trong việc dùng “vũ lực” để giải trừ CNCS là CTVN,  Hoa Kỳ và CÐTG dùng vũ lực tối đa rồi.  Bao nhiêu sinh mạng đã bị giết và tài nguyên phung phí trong cuộc chiến nầy, cuối cùng đã đưa CSBV, dân số khoảng 30 triệu, lên đỉnh hào quang tháng 4/1975 và dân tộc VN về đâu?  Chính sự chệch hướng nầy đã đưa đến việc chạy đua vũ trang với hậu quả tai hại vô cùng lớn lao.

 

Nhưng sức mạnh nào đã đưa các chế độ CS Ðông Âu và Liên Xô xuống huyệt?  Xin thưa đó là “sự thật” là thức tĩnh sự u tối, mù quáng của chính các dân tộc nầy đã triệt tiêu công lực của CS.  Sức mạnh của “sự thật” là vô song vậy.

 

c. Phát triển - Sau đó lại đến các cơ chế quốc tế khác như WTO và APEC chệch hướng.  Sau HN APEC cuối năm 2006 tại Hà Nội, nghe nói CSVN được tài trợ gần 10 tỷ mỹ kim để phát triển.  Phải chăng thế giới lo sợ CSVN sụp đổ?  Trong số 21 nguyên thủ quốc gia tham dự HN, có bao nhiêu vị chia sẻ nhận thức của Thủ tướng Canada Stephen Harper?  Ông phát biểu với báo chí quan điểm về HN nầy: “Canada muốn phát triển giao thương với thế giới.  Nhưng tôi không tin rằng người Canada chúng tôi muốn bán khoán các giá trị Dân chủ, Tự do và Nhân quyền để lấy đồng đô la.

 

Ðúng thế thưa Thủ tướng, vì CNÐL do trường phái Ðạo lý Suy đồi vẫn còn phát triển mạnh, mà tiêu chuẩn đạo đức thì đã thay đổi.  Theo NQ 1481 của Nghị hội Âu Châu, CSVN là một tội phạm chống nhân loại, nay lại được dễ dàng trở thành con người lương thiện sinh hoạt bình thường trong các cơ chế quốc tế.

 

Tuy nhiên CNÐL đối với những quốc gia nào khác thì còn tạm hiểu, chớ đối với  quốc gia đã có quân đội tham chiến, xương máu con dân mình đã đổ trong CTVN, đặc biệt là Hoa Kỳ, thì cái giá nó thật quá lớn lao. Giải thích thế nào với lịch sử, với nhân dân Mỹ và những người đã hy sinh vì lý tưởng Tự do trên chiến trường VN ?

 

Tình Trạng Báo Ðộng CNÐL

 

Cái đáng sợ hiện nay mà nhân loại phải đương đầu là đạo đức con người vẫn xuống dốc.  Rõ ràng nếu ngày tận thế định mệnh chưa đến chu kỳ, như những di tích lịch sử dẩn chứng đã xảy ra nhiều lần, thì chính cái cuồng tín CNÐL sẽ hủy diệt nhân loại qua sự chạy đua vũ trang, phát triển kỹ nghệ, khai thác thiên nhiên để làm giàu.

 

Ngày 4/6/2007, LHQ có phổ biến một phúc trình mới nhất của tổ chức của hơn 2000 khoa học gia môi trường IPCC tiên đoán viễn ảnh ngày tận thế.   Ðó là hậu quả của sự hâm nóng địa cầu và thay đổi khí hậu sẽ đưa đến tình trạng ngập lụt và hạn hán kinh khủng.  Hằng trăm triệu người thiếu nước và thức ăn vào khoảng cuối thế kỷ nầy, và không cách nào đảo ngược, chỉ có thể làm chậm lại thôi.  Chỉ cần đến năm 2050 là tình trạng hạn hán, thiếu nước đã trầm trọng rồi và có khả năng chiến tranh vì thiếu nước.

 

Gần đây cuốn phim tài liệu về sự thay đổi thời tiết được giải thưởng Osca của cựu Phó TT Al Gore cũng nói lên viễn ảnh trầm trọng nầy.  Ngày 21 tháng 3, ông Al Gore đã đưa ra lời cảnh cáo nghiêm trọng trước Quốc hội Hoa Kỳ là hãy hành động khẩn cấp để đảo ngược tình trạng địa cầu ấm lên “đe dọa sự sống còn của nền văn minh chúng ta và môi trường sống trái đất”.

 

Tình trạng thật là bi đát, viễn ảnh ngày tận thế không tránh khỏi vậy.  Ngày ấy quý vị là những tỷ phú làm giàu không lành mạnh, cùng với gia đình con cháu qua bên kia thế giới không mang theo được một đô la nào mà mang theo một núi nghiệp.

  

Sự chệch hướng của Hoa Kỳ

 

Hoa Kỳ là một siêu cường lớn nhất, nên sự chệch hướng của Hoa Kỳ sẽ vô cùng tai hại cho thế giới. Ông Algore, sau khi ông thực hiện cuốn phim ”An Unconvenient Truth (Sự thật Khó nghe)” và Khi đề cập đến việc Mỹ rút tên ra khỏi HN Kyoto, ông nói: ”Nước Mỹ lâu nay đã đi lạc hướng.  Ðã đến lúc Hoa Kỳ cuối cùng phải nhận lãnh một vai trò lãnh đạo thực sự...  Với tư cách của nền kinh tế lớn nhất thế giới và siêu cường lớn nhất, chúng ta ở vào vị trí độc nhất để đối phó một vấn nạn ở tầm mức nầy”.

 

Ðúng thế, quốc gia Hoa Kỳ có khả năng nhất để đối phó với mọi vấn nạn lớn lao và có khả năng xây dựng cho mình một quốc gia “Free khổ nạn”.  Cốt lỏi những khổ nạn lớn lao mà nhân dân Hoa Kỳ đã trải qua như CTVN, CT Iraq, v.v. chính là do sự chệch hướng của chính mình.  Ðâu là “sự thật” của 2 vấn nạn nầy?  Chiến tranh Iraq đúng ra không nên có vì bài học của NQ vịnh Bắc Việt.  Lúc TT Bush đáp máy bay xuống Hàng không Mẫu hạm Abraham Lincoln từ Iraq về đậu ngoài khơi San Diego và đứng trước biểu ngữ “Mission Accomplished”, chỉ có vài tháng sau khi xăm chiếm Iraq và số binh sĩ hy sinh chỉ có 139 người mà đã thanh toán được chế độ Hussein.  Dù NQ Quốc hội đánh Iraq có phần nào tranh cải nhưng kết quả nầy rõ ràng đưa đến việc đối phó với Iraq dễ dàng hơn nhiều. Sự chệch hướng tai hại nhất là Hành pháp, thay vì nhiệm vụ hoàn tầt công bố rút quân, chia xẻ trách nhiệm bình định cho Cộng đồng Quốc tế, Hoa Kỳ chỉ trách nhiệm những trân đánh lớn. Vì đâu nên nổi?

 

Nhân đây xin mạn phép ghi lại một phần nội dung bài diễn văn từ giả Quốc dân của cố TT Eisenhower ngày 17 tháng 1 năm 1961. Cố TT Eisenhower là một vị tướng, làm TT hai nhiệm sau khi rời quân ngũ.  Trong diễn văn nầy, ông cảnh báo người dân Hoa Kỳ về 2 hiện tượng mới trong xã hội. Một là Hoa Kỳ có một quân lực vĩ đại, là sức mạnh bảo vệ hòa bình cho nước Mỹ.  Hai là sự hiện hữu của một kỹ nghệ quân sự lớn lao.  Chúng ta không thể không thấy ra hậu quả.  Ðó là sự cấu kết của tập đoàn kỹ nghệ chiến tranh trong bộ máy chính quyền để ảnh hưởng tới thủ tục ngân sách quốc gia.  Ông báo động rằng thủ tục ngân sách trong Quốc hội có thể bị các thế lực nầy vô tình hay cố ý chi phối và người dân nên ý thức được điều ấy để bảo vệ các quyền tự do,và tiến trình dân chủ.

 

Hôm nay Hoa Kỳ trở lại can dự vào Việt Nam chính sách quay ngược 180 độ, giúp nó phát triển, mục tiêu xây dựng nó thành đồng minh mạnh trong chiến lược đối đầu với Trung Cộng. Thật vô cùng đau xót cho những ai đã hy sinh cho CTVN trước đây. Ðiều nguy hiểm là chính sách nầy lại vẫn là sự chệch hướng. Có 2 “sự thật” vẫn chưa thấy.  Thứ nhất, sức mạnh có từ VN là dân tộc VN, chớ không phải chế độ CSVN. Thứ hai, mưu cầu “vũ lực” để giải trừ vấn nạn TQ là chệch hướng là đi vào vết xe cũ.  Nên nhớ TQ đang gia tăng 40 tỷ cho kinh phí quốc phòng năm nay và nhiều nước đang chưa chịu từ bỏ vũ khí hạt nhân!  Putin lăm le bỏ trở lại con đường độc tài! Phải chăng phải trở lại “chạy đua vũ trang”?

 

Tránh Sự Chệch Hướng (CH) của TG hay Sinh Lộ Cho Nhân Loại

 

Tóm lại, Ðạo Ðức Suy Ðồi, CNÐL đưa đến “TG Chệch Hướng ” là nguyên nhân khổ nạn triền miên các dân tộc và thảm họa nhân loại. Sự chệch hướng hiện nay đã đến mức cự kỳ nguy hiểm. Sức mạnh đích thực giải trừ không phải là chủ thuyết cao siêu,ý thức hệ, không phải vũ lực, vũ khí hạt nhân, hay tôn giáo và cũng không phải là phát triển mà là “sự thật”, và” lẽ phải”, Sứ mạng của Trí Thức Chân Chánh (TT).

Do đó để tránh sự CH là lãnh đạo các cơ chế Quốc Tế đặc biệt là LHQ, các cộng đồng, các cường quốc (gọi chung là Cộng Ðồng Thế Giới TG) phải là những TT. TT mới thực sự lắng nghe, thực sự đối thoại, nhận thức gần “sự thật” nhất, và trên hết là giải quyết trên căn bản đạo lý, là sức mạnh vô biên.

Hiện nay hầu hết các nước trên thế giới, nếu tôi không lầm khoản 180 /192 nước là có chế độ Dân Chủ. Nếu mọi công dân ý thức trách nhiệm biết quan trọng lá phiếu, tìm hiểu, theo dỏi chính trị đi bỏ phiếu thật đông chọn bầu đúng lãnh đạo là những TT không phải là việc không thể làm được vậy.

Ðối với Hoa Kỳ,một siêu cường mạnh nhất thế giới, sự CH vô cùng tai hại. Do đó lá phiếu công dân Hoa kỳ là quan trọng bật nhất, chịu khó theo dỏi tìm hiểu chính trị, đi bầu thật đông. Dân Chủ hay Cộng Hòa không thành vấn đề mà quan trọng nhất phải là người TT, thiển nghĩ bỏ phiếu người TT không phải đảng mình vẫn hơn là người không phải TT thuộc đảng mình.

Như thế TG sẽ đi đúng hướng và việc giải trừ một số ít nước độc tài còn lại trong đó quan trọng nhất là TQ. không là vấn nạn lớn.

 

Hiện nay có Tòa Án Hình Sự Quốc Tế Ðặc Biệt do LHQ thành lập xét xử tội ác CS Kampuchea (Pol Pol). Ðây là một thành quả tích cực vô cùng quan trọng của LHQ để đưa tập đoàn polpot ra trước công lý, hướng đi tích cực tiếp theo NQ 1481 của Nghị Hội Âu Châu. Ðây cũng là hướng đi đúng hướng của Hạ viện Hoa Kỳ đã 2 lần thông qua Dự luật Nhân quyền với số phiếu áp đảo cả 2 đều trên 400 phiếu thuận, chỉ vài phiếu chống. Một niềm hy vọng cho nhân loại vậy.

Tuy nhiên, tôi tự hỏi Tòa mang tên“Tòa Án Ðặc Biệt”, phải chăng là sau khi xử xong, có bản án cho tập đoàn Pol Pot rồi Tòa giải tán ?

Nếu đúng vậy thì Công Lý chỉ nửa vời, Polpot không là thủ phạm duy nhất. CSVN không những có trách nhiệm không nhỏ về biến cố thảm sát nầy. Bên cạnh đó dân tộc VN cũng cần đưa CSVN ra công lý cũng cùng tội phạm. Thêm vào đó CSVN còn có cái tội gian dối, núp dưới danh nghĩa MT lừa bịp TG và cái tội xé bỏ HÐ, ngay sau khi ký có LHQ chuẩn nhận, không coi quốc tế ra gì. ÐCSVN từ đâu đến có quyền gì cai trị dân tộc VN. Hãy trở lại cái MLP HÐ Hòa Bình Paris vậy.

 

LHQ và đặc biệt là Hoa Kỳ vì công lý, vì trách nhiệm lớn lao với dân tộc VN, với nhân dân Hoa Kỳ và thế giới phải mở rộng Tòa Án nầy đưa công lý đến cả 3 dân tộc ÐD. Trước đậy nhiều tổ chức Cộng Ðồng Tỵ Nạn VN cũng đã xúc tiến gởi thỉnh nguyện thư lên LHQ nhưng không kết quả. Có thể chưa đến lúc, hôm nay rất nên nghiên cứu lại, đặc biệt là Hội Luật Sư Người Việt Tỵ Nạn.

Thực hiện được công cuộc nầy là trả lại “sự thật” cho lịch sử. Hoa Kỳ và LHQ mới xóa được vết nhơ đi vào lịch sử, nhất là lịch sử Hoa Kỳ. Và mới đúng là màn kết của CTVN vậy.

 

Kết luận.

 

TG đã đi CH vô cùng nguy hiểm, không thể chần chờ, cần có hành động khẩn trương cụ thể. “Sự thật” và “lẽ phải” (công lý) là sức mạnh vô song, không vũ khí gì có thể sánh là “Sinh Lộ Cho Nhân Loại”, sứ mạng của người Trí Thức Chân Chánh. Xin mạo muội có những suy nghĩ sau đây:

 

1 Chấm dứt sự viện trợ phát triển những chế độ độc tài, đặc biệt là độc tài CS. Chỉ nên viện trợ nhân đạo và cho kế hoạch nâng cao dân trí, khôi phục TT đã bị Văn hóa độc tài triệt tiêu, phơi bày “sự thật” trong nhân dân. Thiết lập những “Thư Viện Quốc Tế” càng nhiều càng tốt ở những quốc gia độc tài. Lực lượng TT phát triển tốt là độc tài phải ra đi.

 

2. Vận động mở rộng Tòa Án Ðặc Biệt Kampuchea thành Tòa Án Hình Sự QuốcTế xét xử tất cả các chế độ CS còn lại, thực thi tinh thần NQ 1481 của Âu Châu. Nghe nói hiện nay LHQ chỉ có ngân khoản cho Tòa Án nầy hoạt động có 2 năm, thật là đáng buồn. Thay vì đổ tiền vào các nước CS, độc tài hãy yểm trợ thực thi NQ vô cùng quan trọng nầy.

 

3. LHQ, khi mới thành lập việc phải có mặt của Liên Xô trong HÐBA là việc tranh cãi gay go của những người sáng lập.Trước tình hình lúc bấy giờ có thể tạm hiểu. Thế nhưng sau đó,TQ là thành viên thường trực Hội Ðồng Bảo An LHQ là sự CH của LHQ không thể biện minh.

 

Và “dù sao lại cũng là chuyện đã rồi”. Thế nhưng gần đây Ủy Ban Thế Vận Olympic lại cho phép TQ tổ chức Thế Vận 2008. Thật vô cùng khó hiểu. Thế vận Olympic biểu tượng tính chất cao quý của nhân loại và chế độ Bắc Kinh biểu tượng sự đối nghịch. Ngọn đuốc Olympics được xem như ngọn đèn chiếu sáng nguyện vọng cao đẹp của thế giới, được chủ trì do một chế độ vi phạm nhân quyền trầm trọng nhất thế giới là một sự đùa giởn, một vết nhơ lịch sử Olympics. Không thể quên Thế Vận 1936 đã giúp Hitler như thế nào ? Sự thành công tốt đẹp Olympics 2008 của TQ sẽ là một đại họa cho nhân loại.

Không thể chần chờ TG hãy “Phát động Phong Trào Tẩy Chay Thế Vận 2008”. Ðây là thời cơ ngàn vàng cho TG sửa sai CH trước khi quá trể.

Ngoại trừ TQ phải thức tĩnh tỏ thiện chí ngay bắng hành động cụ thể thực hiện Tự Do Ngôn luận,Tự do Thông Tin, chấm dứt chính sách bành trướng bá quyền vi phạm nhân quyền, làm gương tuân thủ nghiêm túc những điều khoản quan trọng của LHQ (Hiến Chương Nhân Quyền, Công Ước Quyền Chính Trị và Dân Sự).

Dĩ nhiên là không dễ dàng nhưng phải làm, kết quả không nhiều thì ít, không có sự chọn lựa.

TG cần phải quyết tâm điều chỉnh sự CH của mình, hướng đến xây dựng một “Cộng Ðồng TG Chân Chính”, là “Sinh Lộ cho Nhân Loại” và “Trí Thức Chân Chính” là chìa khóa vậy.

Nguyễn Diệp Phong

Rncho Sta Margta, Mùa Giáng Sinh 2007