QUÊ TÔI.

 

Nguyễn Hoàng Trọng Vinh.

 

 

Lời toà soạn:   Bài này là một trích đoạn trong tập hồi ký “Những nẻo đường quê hương” phát thanh 9 kỳ trên Đài Á Châu Tự Do từ năm 2003.  Tác giả là Nguyễn Hoàng Trọng Vinh, một cựu sĩ quan QLVNCH định cư ở Hoa Kỳ, trở về thăm lại quê hương.  Ông đi khắp ba miền đất nước để tìm xem những điều vật đổi sao dời.  Một nơi thăm không thể thiếu là làng Hoàng Xá, huyện Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây, nơi lập nghiệp của giòng họ Nguyễn của ông, vốn là hậu duệ của tướng quân Nguyễn Xí, đại thần của vua Lê Thái Tổ.   Đoạn này tiếp theo đoạn ông thuê taxi từ Hà Nội đi Sơn Tây, trò chuyện với một người sinh viên được quá giang, nói  về tuổi trẻ trong nước.     Anh sinh viên bày tỏ nhiều nỗi niềm uất ức trước cảnh sống trong độc tài, áp bức, bất công..

     Tác giả là người bạn thân cùng khóa Võ Bị Đà Lạt của Con Ong Siêu Quậy,ở chung phòng từ ngày đầu ngơ ngác vào lính, thân nhau như anh em ruột thịt. Đã hơn  bốn mươi năm, trong cuộc chiến, và sau chiến tranh, hai mảnh đời trôi nổi,mỗi người một số mệnh may rủi, lúc hợp, lúc tan nhưng lúc nào cũng nghĩ đến nhau. Thân nhau nhưng tính nết khác biệt, Quậy thì lúc nào cũng ngang bướng, cũng Quậy, tác giả thì bao giờ cũng từ tốn khôn khéo, ăn nói đắn đo mực thước.  Quậy thì nóng nảy, thẳng ruột ngựa, không bằng lòng, tức giận là phừng lên mặt, phọt ra thành lời nên tác giả đã nhiều lần nhắn nhủ: “mày may mắn, nếu mày kẹt lại đi tù như tao, mày  không bị đập chết thì cũng bị sử bắn!”.

     Hôm nay nhận được bút   Quê Tôi, Quậy vẫn khâm phục tác giả ở tính điềm đạm khôn khéo khi trả lời người dân miền Bắc: “anh có công nhận bộ đội đánh trận giỏi không nào?” . . . “thì giỏi chứ, . . . mà các anh đánh thắng được tôi thì cũng giỏi thật chứ sao lại không”. Gặp Quậy tôi mà hỏi như “Rứa” là Quậy sửng cồ liền: “Đ.M, bộ đội đánh dở như hạch, chạy muốn sút quần, lúc nào cũng lấy thịt đè người, lúc nào cũng chơi biển người, lúc nào địch chết một tacũng  chết ba. . . .địch chết ba ta chết ráo. . . .!!!

 

 

Ðến phố chợ Sơn Tây, chúng tôi bịn rịn giã từ. Người thanh niên bước đi, dáng mảnh khảnh nhưng vững chắc, mái tóc bồng tung lên trong gió nhẹ. Ðến đầu ngõ anh còn quay lại nhìn, thấy tôi còn đứng đó vẫy tay, anh vẫy tay mỉm cười chào lại, vẫn cái vẻ bình tĩnh bất cần đời không mảy may sợ sệt....

 

Mẹ tôi thuở sinh thời hay nhắc đến hai người em ruột còn ở lại ngoài Bắc. Một người cậu và một người dì ruột của tôi. Ông cậu thì mới qua đời, còn bà dì thì từ khi mẹ tôi mất đã không còn liên lạc. Ðến ngay nhà người cậu thì mới biết mợ và các em tôi lại đã dọn về Hà Nội.  May là ngôi nhà được một người cháu họ xa mua lại, nhưng đi vắng. Tôi hỏi thăm về bà dì, thì càng may hơn, người hàng xóm bên cạnh lại biết, và cho người chạy xe honda dẫn xe taxi đến tận nhà dì, cách đó đến dăm cây số.

 

Tôi say sưa như mê man trước cảnh miền quê ngoài bắc. Cánh ruộng, con trâu, con đường đất đỏ trải đá ong.  Xa xa là bờ đê và cũng là đường quốc lộ, cao hẳn bên trên cánh đồng lúa xanh rờn.  Xa hơn là núi HOàng Xá hùng nổi bật trên nền xanh cỏ lúa.  Ðường vào làng dì tôi còn đầy những lũy tre xanh. Lối đi quanh quất nhỏ hẹp, nhưng đều trải đá ong. Trẻ em chạy chơi, đánh bi đánh đáo, đánh khăng. Hình ảnh này tôi chỉ thấy trong tranh từ biết bao năm, nay mới được nhìn tận mắt. Lòng tôi đầy bồi hồi xao xuyến. Không còn hình ảnh quê hương nào tuyệt đẹp như ở nơi đây, Sơn Tây, quê tôi.

 

Những nẻo đường quê ấy thực ra không còn nằm trong ký ức của tôi, vì tôi có về quê chỉ đôi ba lần hồi còn bé quá. Chỉ nhớ từ Hà Nội đi xe qua Phùng thì được ăn bánh gai. Chỉ nhớ lối vào dinh cơ thầy mẹ tôi ở làng Hoàng Xá có một cái ao to, lối đi quanh ao ven lũy tre cong cong, hình ảnh ấy bao lần tôi đã thấy lại trong nhiều giấc mộng từ thuở bé tới nay. 

 

Dì tôi theo chồng sang làng khác, nhưng hình ảnh ngôi làng này sao trông quen thuộc vô cùng, hay là vì đây cũng chẳng khác làng tôi là mấy.  Lòng hồi hộp, tôi bảo xe dừng lại ở xa, rón rén đi ven lũy tre xanh, bước vào. Cổng vào nhà dì đơn sơ, bước qua cổng là lối đi lát gạch, bên ngõ vào là cái giếng có bơm tay nằm cạnh ngôi nhà bếp nhỏ xíu lợp tranh, xiêu vẹo. Trong sân chim hót vang rền. Cửa nhà mở toang, không thấy bóng người. Tôi gọi “Dì ơi, dì ơi” mà đã nghẹn lời, chỉ sợ không gặp được dì . Dì tôi từng bế tôi về Sơn Tây ăn cỗ lúc tôi còn ba tuổi, xong lại về Hà Nội ở với thầy mẹ tôi, trông nom tôi từ tấm bé. Nay, đã năm mươi năm qua, chẳng biết người đã ra sao. Dì tôi từ nhà trong bước ra, nhìn tôi bỡ ngỡ.  Ôi!  Thật đúng là dì út của tôi, không thể là ai khác, vì dì giống mẹ tôi như giọt nước thứ hai.

 

Tôi hỏi: Bà có biết con là ai không, mà nước mắt đã tuôn tràn. Dì ngần ngại lắc đầu, hỏi có phải thằng Tú ở công an tỉnh phải không. Tôi bước tới cầm tay dì và cứ khóc, phần thương dì, phần nhớ mẹ. Ðến khi tôi nghẹn ngào nói được “cháu là thằng Vinh con của mẹ Trang đây, dạo còn bé dì đã bế cháu về Sơn tây ăn cỗ”, thì dì ôm chặt tôi khóc òa, nức nở. Ối thằng Vinh, sao bây giờ mới về hả con. Tưởng dì không còn gặp đuợc đứa nào. Ði Mỹ rồi quên hết cả quê nhà bản quán....

 

Tôi đưa dì sang làng Hoàng Xá, ghé vào một quán ăn bên con đường tỉnh lộ rộng rãi khang trang. Dì chẳng ăn được bao nhiêu,vì dì vui lắm, luôn miệng kể chuyện mẹ tôi và bà ngoại. Dì nói là mẹ tôi lúc nào cũng nhớ đến người em, là dì, biên thư về làng hỏi thăm luôn, mãi cho đến khi từ trần, tưởng đã biệt tăm cả lũ cháu... 

 

Dì cũng kể chuyện bà ngoại tôi như tôi từng nghe mẹ tôi kể lại. Bà ngoại là người nhân đức. Vào năm đói trước nhà ông bà tôi ngày nào cũng có nồi cháo trắng. Ai đi qua cụ cũng mời ăn bát cháo cầm hơi. Dì tôi kể lại y hệt, nói là nhờ thế mà anh em tôi bây giờ được sung sướng.

 

Sang phố chợ Hoàng Xá, hai dì cháu tôi vào thăm người em họ, con ông chú ruột của tôi, nay là trưởng tộc của thế hệ tôi ở làng này.  Người em họ bằng tuổi tôi, cao lớn, trông thật chững chạc, oai phong.  Chú giống thầy tôi và một người anh tôi một cách lạ lùng.  Chẳng là thân phụ của chú, tức là ông chú ruột của tôi, nghe nói là giống hệt thầy tôi.  Chú này bị động viên đi B, trở thành sĩ quan bộ đội chiến đấu trong Nam.  Chú nắm chặt lấy cả hai tay tôi, nhìn tôi đăm đăm, miệng cười tươi:  anh Vinh đây à, gớm từ bé đến giờ anh em mới biết được nhau. Tôi cảm thấy thật vui thích, chăm chú quan sát người em từng đứng bên kia chiến tuyến. Vào nhà, thì ngoài sân đã đông nghịt người kéo đến xem. Ôi sao mà người làng tôi trông thảm thương đến thế... Hay là vì mình đã quen nhìn những người no đủ..?!

 

Người làng có nhiều người họ hàng xa, nghe tin tôi về chạy tới hỏi thăm, nhưng tôi chẳng biết một ai, chỉ cúi chào trong thân tình và niềm cảm động. Những người già cả đều biết thầy mẹ tôi. Song thân tôi bỏ hết của cải ở nơi đây và ở Hà Nội, dắt díu các con chạy vào Nam, còn để lại nhiều ruộng vườn nhà cửa ở làng và tỉnh Sơn Tây. Những người làng đều kể cho nhau, họ còn nhớ cả. Chú em tôi nói oang oang, cả họ kéo đi gần hết, còn có chú ở đây nên mới thành trưởng tộc. Có bà chị họ già hơn tôi cả hai chục tuổi, cũng vui vẻ kể chuyện về thầy tôi thuở còn trẻ, ở làng.  Bà nói là lúc thầy tôi gánh lúa đứt giây, thì ông chửi cha bố thằng thừng.

 

Ông em họ này biết tôi là sĩ quan miền Nam, hai anh em cứ hỏi nhau chuyện chiến đấu và chiến trường, thì mới biết ra một chuyện thật không thể ngờ...  Chú này từng làm Thượng Úy tiểu đoàn phó bộ đội miền Bắc, cùng cả tiểu đoàn đánh nhau với đúng ngay đại đội của tôi ở sông Mỹ Chánh, lúc tôi còn là trung úy của tiểu đoàn 5 nhảy dù.  Khi quân ta được lệnh phản công, đại đội tôi còn đuổi theo chú vào tuốt Cổ thành Quảng Trị.   Chúng tôi lại đánh nhau dập vùi ở đầu làng Trí Bưu, đại đội tôi diệt sạch chốt, xông đến tận nhà thờ Trí Bưu thì tôi bị thương vì lựu đạn của bộ đội. 

 

Tôi với chú cùng cười hể hả kể lại chuyện chiến tranh, vạch áo vạch chân khoe ra mỗi người dăm ba vết chiến thương. Vậy mà cũng còn mạnh khỏe cả.  Tôi kể cả làng nghe, chú này lấy đại bác 130 với súng cối 81 rồi cả DKZ pháo tôi, thì tôi cũng gọi đại bác với máy bay ném bom chú um xùm.  Hai đơn vị do hai anh em chỉ huy, cùng xông xáo ở hàng đầu, đánh nhau trộn chấu giáp lá cà bao nhiêu lần, bên nào cũng hăng, không ai chịu nhường ai, thế mà đều còn sống cả, thì phúc đức của làng ta thật là to quá. 

 

Tôi cầm chặt tay chú mà lòng cảm động không cùng, nói là may mà anh em mình chẳng giết được nhau, nên mới có ngày hôm nay ngồi đây cười vui thế này. Một vài người họ hàng xa, tuổi trung niên nhìn tôi cười tủm tỉm, hỏi anh có công nhận bộ đội đánh trận giỏi không nào.  Tôi cười nói là thì giỏi chứ, tôi cũng đâu phải hạng xoàng, cũng người Sơn Tây đây, mà các anh đánh thắng được tôi thì cũng giỏi thật chứ sao lại không.   Nhưng mà, tôi nói thêm, hai bên chúng mình chẳng ai thắng trận cả đâu.  Bên miền Nam thì chết gần 300 ngàn, ai còn sống thì tù tội quanh năm, bên miền bắc chết đến 800 ngàn, toàn những người như các anh, người làng của nhau cả. Nhân dân thì chết có đến hằng triệu, thì có ai mà là người chiến thắng?   Giá trước nay đừng có đánh nhau thì có phải mình đã được vui vẻ như thế này từ mấy mươi năm trước rồi không nào.... Không khí chợt chùng xuống, rồi người làng đua nhau hỏi chuyện bên Mỹ...    

 

Chúng tôi ra đồng thăm mộ ông bà.  Làng tôi lớn và giàu nhất tỉnh thì phải, nhưng ngày nay có vẻ thưa vắng.  Hay là vì giữa buổi trưa mọi người còn ngơi nghỉ. Ngày xưa chẳng biết ra sao, ngày nay thì cánh đồng làng không mấy lớn, nhưng nhà cửa cũng khang trang, lối đi lát gạch, chỉ có những lũy tre thì không còn thấy xum xuê như ngày xưa tôi còn nhớ. Cái ao to bây giờ thành nhỏ xíu, vì nhà cửa lấn ra. Làng có điện, những cột điện vươn lên cao hơn lũy tre xanh, nơi nào cũng thấy. Tôi đi chụp hình một số căn nhà thầy mẹ tôi để lại.   Có một cơ ngơi là một ngôi nhà ngói ba gian đã khá xập xệ, nhưng bây giờ gian giữa vẫn còn được dành để thờ ông bà ngoại của tôi. Tấm lòng ân nghĩa của người dân quê Việt Nam thật vô cùng quý giá. Thăm hỏi việc ruộng nương, thì được biết dân đã đỡ khổ từ ngày bỏ hợp tác xã. Chú em tôi nói, từ ngày mở cửa kinh tế đến giờ thì làm ruộng như ruộng của mình, buôn bán tự do, chỉ lo đóng thuế thôi. Chú có cuộc sống an bình, làm ruộng tư, lãnh lương hưu hình như cũng tạm đủ cho đời sống thôn quê, có vẻ như lúc nào cũng biết ơn “bác và đảng”, khiến tôi đôi lúc không dấu được nụ cười, cứ phải gật gù phụ họa.   Em tôi có khác nào con ngựa bị che mắt kéo xe, luôn biết ơn người chủ cho mình cái xe để kéo và thùng rơm có nước để mà ăn uống, còn cái roi đen đét thì cũng là chuyện phải thế mà thôi...   

 

Chiều về trên cánh đồng xa. Tôi lưu luyến chia tay anh em làng nước. Mọi người cũng bịn rịn tiễn chân. Trở về nhà dì, hai vợ chồng người em, con rể và con gái của dì, đã được gọi qua, đã làm xong món canh cua đồng rau đay, với cả con gà tơ ngon tuyệt, được ăn phải nhớ mãi.    Chẳng bao lâu trời sụp tối, tôi phải chia tay với dì và hai em, với cháu. Dì bắt tôi phải hứa đi hứa lại thể nào phải cũng thư từ thăm hỏi dì luôn.

 

Tôi ra xe để về Hà Nội chuẩn bị cho chuyến bay đi Huế ngày mai. Dì tôi ra tận ngõ, rồi dừng lại, nhìn theo. Trong bóng hoàng hôn chập choạng, tôi ngoái lại còn thấy khuôn mặt thân yêu của dì đầm đìa nước mắt.

 

Nguyễn Hoàng Trọng Vinh.