Người Xưa


Phạm Thành Châu
(Trích đăng Con Ong Việt số 93 tháng 5, 2008)

Quê tôi ở miền Trung, là một thành phố nhỏ, nằm bên bờ một gịng sông. Con sông nầy phát nguyên từ thượng nguồn, trong dăy Trường Sơn. Về mùa mưa, nước tràn xuống, ngập mấy đường phố gần bờ sông, ngập luôn nhà cửa, hàng tre, cây cối làng mạc bên kia bờ đối diện. Tuổi thơ của tôi chỉ c̣n lại trong kư ức những mùa lụt đó. Năm 1946, cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ. Các thành phố đều tản cư về vùng quê, thực hiện “Vườn không nhà trống”. Người dân Việt sục sôi ḷng yêu nước, quyết hi sinh tất cả để đánh đuổi thực dân Pháp. Ba tôi đưa cả gia đ́nh gồm mẹ tôi và hai chị em tôi, từ thành phố ngược sông lên tận thượng nguồn, vào một vùng thôn quê hẻo lánh cùng sống với đồng bào. Thời đó, người thành thị tản cư đến đâu cũng được đồng bào mở rộng ṿng tay, khoai sắn, rau mắm có nhau. Ba tôi gửi cả gia đ́nh cho đồng bào địa phương rồi lên đường cầm súng chiến đấu.

     Thanh Phước, là vùng chúng tôi tản cư, toàn núi non, trồng khoai sắn, bắp, chỉ có vài lơm nhỏ có nước trồng lúa, nhưng chẳng được bao nhiêu. Thế nên bữa “cơm” nào cũng chỉ có khoai sắn với mắm. Lúc đó tôi c̣n quá nhỏ, khoảng năm, sáu tuổi nên không biết ba tôi làm chức vụ ǵ trong kháng chiến, nhưng mỗi lần đi công tác, ghé qua nhà, ông thường cưỡi ngựa và mang súng lục (súng ngắn) bên hông. Đối với chúng tôi cũng như bọn trẻ hàng xóm, con ngựa quả là một con vật kỳ lạ và oai hùng. Nó rất cao, da màu xám nâu, hay gục gặc đầu và dậm chân. Chúng tôi đứng xa mà ngắm chứ không dám đến gần, sợ ngựa đá chết. Tôi c̣n nhớ có ai đó bảo rằng, con ngựa khi ngủ vẫn đứng, hễ ngựa ngủ mà nằm là ngựa đang bị bịnh. Đến bây giờ tôi vẫn tin như thế. Khi ba tôi lên ngựa, giật cương, nó ngẩng đầu lên, bốn chân nhịp bước, lóc cóc trên đường quê và khuất dạng ở một ngă rẽ, hai chị em tôi lặng người v́ xúc động. Không biết con ngựa đưa ba chúng tôi đi đâu?

     Nhà chúng tôi lợp tranh, gần chuồng trâu của chủ nhà, rất nhỏ, chỉ đủ một chiếc giường tre cho mẹ tôi và chị em tôi nằm và một cái bếp đầy tro. Vợ chồng chủ nhà, khoảng bốn mươi tuổi, là những người rất chất phác, hiền lành. Ông ta tên Tuần Đa, có lẽ thời trước là tuần đinh hay ǵ đấy. Bà vợ ốm và đen, ngày nào cũng thế, từ mương rẫy về là ra sau nhà cho heo ăn. Họ nuôi hai con heo nái ốm nhom, khi có chửa lại mập phệ, bụng gần chạm đất. Chỗ bếp lúc nào cũng có một nồi cám heo, tôi thường moi trong nồi đó, t́m những củ khoai bằng ngón tay, bỏ mồm ăn cho đỡ đói bụng. Chủ nhà có hai người con. Một cô gái lớn, tên Liễu độ mười lăm, mười sáu và người em trai chúng tôi gọi là chú Mạnh, mỗi sáng chú thường đưa hai con trâu đi ăn cỏ trong núi. Tôi c̣n nhớ, khi chúng tôi đi học, phải lội bộ một quăng xa, quanh co đường núi. Trường làm dưới tàng cây, có mấy cái hầm núp báy bay ngay cạnh lớp học, hễ nghe tiếng u u từ rất xa của máy bay Pháp là học tṛ được lùa xuống hầm ngồi.

     Mẹ tôi với hai đứa con thơ dại (chị tôi lúc đó khoảng mười tuổi), nhờ vả đồng bào măi cũng không được, mà ai cũng khó khăn nên có lẽ ba tôi gợi ư, khoảng năm 1951, mẹ tôi dẫn  con hồi cư, về lại thành phố.

     Về thành phố, mẹ tôi phải lăn lưng vào xă hội buôn bán nuôi con. Cuộc sống quá khó khăn, chị tôi chỉ mới hơn mười tuổi mà cũng phải xuống chợ ngồi bán rau quả, buổi tối c̣n đi bán bánh ḿ trên các đường phố. Cứ đến ḷ bánh ḿ lănh một mớ, cho vào bao tải để ủ nóng, bỏ vào thúng bưng đi rao khắp nơi “Bánh ḿ nóng đây!”. Chỉ có tôi được đi học. Mẹ tôi lấy chồng sớm, có hai con mà tuổi chưa đến ba mươi. Bà vẫn ở vậy nuôi con, chờ chồng. Thỉnh thoảng, mẹ tôi được tin (bí mật) ba tôi từ Thanh Phước (vùng tản cư trước đó), nhắn về lời hỏi thăm. Mẹ tôi cũng chỉ ậm ừ, không dám nhắn ǵ với người đưa tin, sợ mật thám Pháp biết, hơn nữa, chồng đi kháng chiến th́ coi như đă thuộc về Tổ Quốc rồi, bà không c̣n quyền biểu lộ nhớ nhung, làm yếu ḷng người đi.
 

     Học xong trung học, tôi vào Sài G̣n thi vào trường Quốc Gia Hành Chánh. Sau bốn năm đèn sách, tôi tốt nghiệp ngạch Đốc Sự, được bổ đi làm phó quận hành chánh. Được vài năm th́ miền Nam sập tiệm, năm 1975. Tôi đi (tù) cải tạo sáu năm, về Sài G̣n làm đủ nghề. Bán vé số, đạp xích lô, sửa xe đạp lề đường...

     Mẹ tôi tưởng ba tôi đă tập kết ra Bắc năm 1954, nên bà vẫn hi vọng và chờ đợi. Đến năm 1975, một số bạn bè của ba tôi đi kháng chiến trở về thành phố, nhưng ba tôi vẫn bặt tăm. Hỏi các bạn ba tôi th́ họ bảo, lúc đó, ba tôi làm t́nh báo, thỉnh thoảng giả dạng người đui mù, ghẻ lở làm ăn mày, vào thành phố, để do thám, sau đó bị Pháp bắt, tra tấn đến chết. Mẹ tôi nghe thế buồn và thất vọng. Bà quẩn trí và bịnh chết sau đó ít lâu.

     Năm 1990 tôi và vợ con đi Mỹ theo diện HO. Đến Mỹ, tiếng tây, tiếng u không rành, lại lớn tuổi, sức khỏe kém, tôi chỉ làm được những việc lao động chân tay làng nhàng. Lương không đủ chi phí, vợ chồng tôi phải làm gấp đôi thời gian mới giải quyết được nhiều nhu cầu cần thiết cho cuộc sống. Đến nay th́ đứa lớn đă tốt nghiệp đại học, có việc làm ổn định, có thể giúp đỡ các em cho vợ chồng tôi được nhẹ gánh phần nào. Chúng tôi giảm bớt công việc để có chút th́ giờ nghỉ ngơi.

     Khi tâm trí đă bớt lo lắng cho cuộc sống, chúng tôi mới nghĩ đến quê hương, bà con thân quyến nơi quê nhà. Tôi gọi điện thoại cho chị tôi ở Việt Nam, báo sẽ về Việt Nam và rủ chị về thăm Thanh Phước, nơi chúng tôi tản cư năm 1946, thăm bà con, xóm giềng. Ngoài mục đích thăm viếng, chúng tôi hi vọng đồng bào ở đó biết được chút tin tức nào về ba tôi chăng?
 

     Chúng tôi đi tản cư thời c̣n rất nhỏ, chẳng biết ǵ ngoài một số địa danh và tên những người trong gia đ́nh chủ nhà cho chúng tôi dựng nhà trú ngụ. Dù vậy chúng tôi vẫn rất hi vọng, hăng hái lên đường. Hai chị em thuê thuyền máy từ thành phố, khởi hành lên Thanh Phước rất sớm, gần trưa th́ đến nơi. Cảnh vật đă hoàn toàn khác xa với những ǵ chúng tôi tưởng tượng. Hai bên bờ sông, vách đá dựng đứng, phải ngẩng đầu lên mới thấy đỉnh núi. Thuyền ghé vào một bến sông vắng vẻ, đ́u hiu. Trên bờ chỉ có vài ngôi nhà tranh, dựa lưng vào chân núi, quanh mỗi nhà là vạt đất trồng khoai lang, khoai ḿ (sắn). Chị em tôi lên bờ, ngơ ngác, không hiểu thuyền có cập bến đúng nơi không? Người chủ thuyền chỉ cho chúng tôi một lối ṃn:

- “Cứ theo đường ṃn đó, đi quanh hẻm núi độ vài cây số, qua khỏi cái đèo là thấy làng Thanh Phước. Không xa lắm nhưng đường hơi khó đi. Dân trong đó sống cô lập, ít người vào. Nếu t́m không ra người thân th́ theo đường lớn dọc bờ sông độ ba cây số là đến chợ huyện, thuyền chúng tôi c̣n ở đó, chiều mới về lại thành phố”.

     Vừa theo sự chỉ dẫn của người chủ đ̣, vừa theo linh tính, chị tôi dẫn tôi men theo một con đường ṿng vèo trên núi để vào thung lũng. Khi vừa xuống đồi th́ một làng nhỏ hiện ra với những nhà tranh rải rác có hàng rào tre dày đặc vây quanh. Chúng tôi cứ theo đường làng mà hỏi thăm nhà ông bà Tuần Đa. Nhà nào cũng không có người lớn, có lẽ đă lên rẫy, chỉ có vài đứa trẻ ngơ ngáo chẳng hiểu chúng tôi hỏi ai?! Sau mới vỡ lẽ là những người ngày xưa nay không c̣n nữa. Chị tôi hỏi một bà già, có biết nhà cô Liễu, là tên con gái của ông Tuần Đa, bây giờ độ sáu bẩy chục tuổi, th́ được biết chỉ cách đó vài ngôi vườn mà thôi. Khi đến nơi, chúng tôi thấy nhà cửa không thay đổi mấy. Vẫn cái chuồng trâu bên cạnh vạt sắn mà trước đây là nhà của chúng tôi. Vẫn ngôi nhà tranh ba gian và căn nhà ngang có bếp, chuồng heo và là chỗ sinh hoạt của gia đ́nh chủ nhà mỗi buổi chiều.

     Chúng tôi bước vào sân. Một con chó nhỏ chạy ra, vừa ngoắc đuôi vừa sủa gâu gâu. Chị tôi lên tiếng:

- “Có ai trong nhà không?”.

     Từ sau nhà ngang, có người nói:

- “Có tôi!”.

     Rồi một người đàn bà, tuổi trên sáu mươi, ốm và cao, mặc đồ đen từ nhà ngang bước ra. Chị tôi kêu lên:

- “Có phải cô là cô Liễu không?”.

     Người đàn bà vẻ ṭ ṃ:

- “Phải! Bà con đây hỏi tôi có chuyện chi không?”.

     Chị tôi cười:

- “Con nhớ cô mà cô không nhớ tụi con. Cô biết tụi con là ai không?”.

     Cô Liễu nh́n mặt từng người, khi thấy tôi th́ hai mắt cô mở to, miệng hơi há ra, vẻ kinh ngạc, bàng hoàng.

- “Xin lỗi, anh có phải là anh Bằng không? Hay là con anh Bằng?”.

     Tôi cười:

- “Dạ, con là con của ba con”.

     Cô bước tới, vịn hai vai tôi nh́n sửng, nước mắt ứa ra :

- “Trời ơi là trời! Sao hai cha con giống nhau quá sức. D́ tưởng là ba con hiện về. Mà ba con lúc đó c̣n trẻ hơn con bây giờ nữa. Trẻ lắm. Độ trên ba mươi thôi”.

- “Dạ, con bây giờ trên năm mươi rồi”.

     Cô quẹt tay lên mắt để chùi nước mắt rồi cười:

- “D́ thấy con, d́ nhớ ba con. Vô nhà. Đứng chi ngoài nầy hoài, mỏi chân. Vô đây!”.

     Chúng tôi theo cô vô nhà.

- “Hai đứa bây ở lại ăn cơm với d́ nghe. Ở thành phố ăn sướng, về đây ăn khổ với gia đ́nh d́ một bữa. Rau mắm cho biết mùi nhà quê”.

     Chúng tôi vào nhà, ngồi trên một cái phản gỗ cũ ở nhà giữa. Cô Liễu lấy cái quạt bằng mo cau quạt cho chị em tôi.

- “Ngồi nghỉ một lúc cho khỏe, chờ d́ xuống làm cơm”.

- “Xin cô đừng bận tâm chuyện ăn uống. Tụi con khổ quen rồi, ăn uống sao cũng được. Bây giờ cô kể cho tụi con nghe chuyện gia đ́nh cô. Chắc ông bà Tuần (ba mẹ cô) không c̣n nữa. Sao nhà vắng vẻ quá?!”.

- “Cậu Mạnh cũng lớn tuổi rồi, cũng con cháu đầy nhà, nhà gần đây, ăn uống xong d́ đưa đi thăm. Con gái d́ dạy học, chồng nó cũng là thầy giáo, mấy đứa cháu ngoại đi học ngoài trường huyện. Tụi nó cũng sắp về rồi. D́ chỉ có một đứa con gái. Chồng d́, thời kháng chiến chống Pháp, coi như mất tích năm năm ba (1953). Nó sinh ra không thấy mặt cha, chỉ thấy tấm h́nh. D́ ở vậy nuôi con”.

     Rồi cô thở dài:

- “Bây giờ th́ coi như ổn định rồi. Con cháu đầy đủ. Chỉ có d́, bịnh già, thuốc men hoài cũng vậy...”.

     Chị tôi nói:

- “Bây giờ tụi con sống cũng đắp đổi, không nghèo khổ lắm đâu. Mời cô về thành phố ở chơi với tụi con mấy bữa, nhân dịp đưa cô đi bác sĩ, coi có bịnh ǵ th́ chữa cho cô. Mẹ tụi con mất rồi, bây giờ tụi con coi cô cũng như mẹ, cô đừng ngại. Thời tản cư, ông bà Tuần cũng như cô, chú trong gia đ́nh nầy đối xử với gia đ́nh tụi con quá tốt. Con tuy c̣n nhỏ nhưng cũng nhớ sự giúp đỡ đó. Má con cứ nhắc hoài về ḷng tốt của gia đ́nh cô...”.

     Cô cười:

- “Thời đó th́ ai cũng khổ, gia đ́nh d́ cũng áy náy lắm v́ chẳng giúp đỡ được cho gia đ́nh các con. Hai con định ở lại đây chơi mấy bữa hay chiều nay về. Nhà d́ quê mùa, không dám ép, để mấy đứa bây tùy ư. Nhưng dù sao cũng ăn bữa cơm rồi hăy về. Ngồi đó chơi để d́ đi bắt con gà làm thịt, ở đây chẳng có chợ búa, mua bán ǵ cả”.

     Chị tôi vui vẻ theo cô xuống bếp bắt gà làm thịt, tôi th́ ngồi nh́n vơ vẩn trong nhà. Nhà thôn quê nào cũng giống nhau, căn giữa làm nơi thờ phượng, trước bàn thờ có bàn nước để tiếp khách, hai bên là giường hay phản, thường chỉ để cho đàn ông ngủ. Tôi nh́n lên bàn thờ thấy mấy bức h́nh để thờ, trong đó có h́nh ba tôi. Thật tâm, tôi cũng chỉ biết ba tôi qua tấm h́nh để thờ ở nhà tôi, chứ trong kư ức, tôi chỉ nhớ dáng ba tôi cao lớn, oai hùng, mắt sáng, đeo súng lục bên lưng và cưỡi một con ngựa xám, v́ lúc đó tôi c̣n nhỏ quá (mà ba tôi thỉnh thoảng mới về thăm nhà, nơi chúng tôi tản cư). Tôi thắp nhang, cúng lạy rồi cắm vào bát nhang. Tôi thấy sau bức h́nh ba tôi có một gói ny lông nhỏ. Tôi ṭ ṃ đi ṿng bên cạnh bàn thờ lấy gói đó, mở ra, th́ thấy đó là chiếc áo đàn ông. Áo bằng vải ka-ki trắng nhưng bạc màu, sờn ṃn, có vài miếng vá, có lẽ là của ba tôi được gia đ́nh nầy giữ làm kỷ niệm.

     Tôi xuống bếp hỏi cô Liễu:

- “Cô làm sao có được h́nh ba tụi con mà thờ hay quá vậy?”.

     Cô đang đun bếp quay lại giải thích:

- “Thời kháng chiến cũng có chụp h́nh, nhưng h́nh chụp chỉ bằng lóng tay. Ba con để lại tấm h́nh đó cho gia đ́nh d́. Khi được tin ba con mất tích, d́ đem tấm h́nh đó xuống chợ, nhờ người ta vẽ lại lớn hơn để thờ”.

- “Cô biết ba tụi con mất khi nào không?”.

- “Khi gia đ́nh các con hồi cư về thành phố, thỉnh thoảng ba các con đi công tác thường ghé về ngủ lại ở căn nhà cũ của gia đ́nh con bỏ lại. Có khi nửa tháng ghé một lần, khi vài ba tháng. Ghé ăn uống nhà d́, ngủ lại, sáng hôm sau là đi. Bao giờ cũng đi lúc gần sáng”.

- “Cô có biết ba con làm chức vụ ǵ trong kháng chiến không?”.

- “Ba con không nói, d́ đoán cũng làm lớn lắm. Cưỡi ngựa đeo súng lục đâu có phải nhỏ. Nhưng thỉnh thoảng ba con có kể chuyện thành phố. D́ không hiểu sao ba con lại biết chuyện thành phố? Sau nầy khi ba con mất tích, có người ghé qua đây báo tin cho d́. D́ cũng hiểu lờ mờ rằng mỗi lần bộ đội sắp đánh thành phố th́ ba con thường giả làm ăn mày, vào thành phố dọ xét trước. Không hiểu ba con bị Pháp bắt hay tử trận. Không ai cho d́ biết rơ! Đó là vào khoảng năm năm ba (1953), gia đ́nh d́ lấy ngày cuối cùng c̣n thấy ba con làm ngày giỗ”.

     Tôi bỏ lên nhà trên rồi bước ra sân đứng ngó mông. Cảnh thôn quê với núi rừng, êm ả, thanh b́nh, chỉ có tiếng chim kêu trong bụi cây, tiếng gió ŕ rào ở hàng tre. Xung quanh là đồi núi chập chùng, như bức tường, ngăn cách hoàn toàn với bên ngoài. Thật giống như trong truyện truyền kỳ. Có một làng nọ, người dân tự động kéo vào một thung lũng nằm sâu trong rừng núi trùng điệp để tránh chiến tranh. Cả trăm năm sau, có người lạc vào đấy, dân làng hỏi:

- “Ông vua ǵ đấy c̣n làm vua không?”.

     Đang suy nghĩ vẩn , tôi bỗng nghe tiếng chào:

- “Chào chú!”.

     Tôi quay lại. Đó là một chị đàn bà tuổi trên bốn mươi, đang dẫn xe đạp vô nhà. Có lẽ là con gái của cô Liễu đi dạy về. Chị ta đi vào bằng ngơ sau nên tôi không thấy. Chị ta trẻ hơn tôi chưa đến mươi tuổi nhưng lại kêu tôi bằng chú! Tôi chào lại:

- “Chào chị!”.

     Chị ta cười, giọng thân mật:

- “Mời chú vô nhà!”.

     Tôi thấy, dưới chiếc nón, gương mặt chị ta rất quen. Quen thuộc đến độ như người thân thiết. Một t́nh cảm thương yêu, bao dung như ruột thịt bỗng dâng tràn, từ ḷng tôi giành cho chị ta và tôi linh cảm như cũng nhận được một t́nh cảm tương tự từ ánh mắt long lanh, tŕu mến của chị ta. Nhưng tôi biết chắc chưa hề gặp chị ta bao giờ. Tôi cười và nói:

- “Tôi đứng chờ cơm. Trong nhà nấu nướng xong tôi mới vào”.

     Chị ta không nói ǵ, dẫn xe vô nhà. Tôi nghe chị ta hỏi:

- “Mấy đứa nhỏ chưa về hả mẹ?”.

     Rồi có tiếng chào hỏi, cười nói của chị tôi với chị ta. Một lúc tôi nghe tiếng cô Liễu gọi tôi:

- “Con vô đây d́ nói cái nầy cho nghe. Hay lắm!”.

     Tôi đi vào, cô nắm tay tôi kéo đến trước một cái tủ đứng, tủ có cánh cửa là một gương soi lớn, có thể thấy được từ đầu đến chân. Cô bảo :

- “Cứ đứng đây chờ d́”.

     Tôi không hiểu ǵ cả, nhưng vẫn nghe lời cô, đứng yên đấy. Rồi cô xuống bếp lôi chị tôi lên, cũng đứng trước gương soi, sau lưng tôi. Cô lại kêu vọng vào trong pḥng:

- “Thay đồ xong chưa? Ra đây mẹ bảo chuyện nầy”.

     Chị đàn bà lúc năy từ trong pḥng đi ra. Chị ta mặc một bộ bà ba trắng. Cô Liễu đẩy chị đàn bà tới đứng cạnh tôi. Rồi cô dùng tay ép đầu tôi và đầu chị đàn bà tựa vào nhau, giống như người thợ chụp h́nh trong tiệm, sửa soạn chụp h́nh kỷ niệm cho hai người yêu hay hai vợ chồng. Chúng tôi không hiểu ǵ cả, yên lặng cười và chờ đợi, không biết cô định làm ǵ nữa đây? Chúng tôi nghe cô khóc, giọng nghẹn ngào:

- “Nh́n vô gương coi thử. Hai đứa con có giống nhau không?”.

     Bấy giờ tôi mới để ư và kinh ngạc. Tuy là nam và nữ, nhưng tôi và chị đàn bà lại giống nhau như khuôn đúc. Từ gương mặt, đôi mắt, lông mày, chiếc mũi cho đến miệng cười. Cô vẫn khóc và nói tiếp:

- “Các con nh́n anh em nhau đi. Nó là em. Chị em, anh em ruột thịt đoàn tụ nhau. Cùng cha khác mẹ đó!”.

 

Phạm Thành Châu