Hồi Kư:

Nhớ Ngày 30/4/75

Nguyên tác: Tom Polgar - Bản dịch: Phụng Hồng

 

 

--------------------------------------------------------------------------------

 

Lời người dịch : Tom Polgar nguyên là trùm CIA cuối cùng của Toà Đại Sứ Mỹ tại Saigon. Nhắc đến Tom Polgar, hẳn rất nhiều người không thể nào quên được những kế hoạch t́nh báo và phản t́nh báo của CIA mà ông ta đă thực hiện một cách rất tinh vi tại VN trong đầu thập niên 70, nhất là công tác điều nghiên và theo dơi toàn bộ những buổi họp mà Dinh Độc Lập cho là "tối mật" nghiên và sau đó là cuộc họp mặt của TT Nguyễn Văn Thiệu tại Vũng Tàu cùng với các tướng Viên, Quang, Phú (14/3/95) bên cạnh có Trần Thiện Khiêm là cánh tay mặt đưa đến quyết định ngu xuẩn "Triệt Thoái Cao Nguyên 1975" để rồi cuối cùng, phó mặt cho CSBV nuốt sống miền Nam. Tom Polgar cũng là người đặc trách cho di tản một số yếu nhân và Tướng lănh VNCH vào giờ chót như Thủ Tướng 7 ngày Nguyễn Bá Cẩn, Trần Văn Đôn,...

 

Hàng năm, cứ đến ngày Quốc Nhục 30/4, Tom Polgar lại viết hồi kư tưởng nhớ Saigon, nơi mà ông từng có những kỷ niệm đẹp. Đặc biệt năm nay, ông viết 2 bài : "The Fall of Saigon" và "Too little, Too Late -- But Still Wrong" (Phê b́nh tác phẩm "In Retrospect : The Tragedy and Lessons of Vietnam" của nguyên Bộ Trưởng Quốc Pḥng Mỹ (1961-1968) Robert Strange McNamara viết chung với Brian VandeMark).

 

Tom Polgar hiện nay đă 72 tuổi, sống ẩn dật tại một thị trấn nhỏ ở Florida. Bài dưới đây đăng độc nhất trên nhật báo Đức ngữ "Welt am Sonntag" (World Sunday).

 

 

* * * * *

     Đúng 20 năm trước ngày này lúc 6 giờ sáng, 30/4/75, tôi đáp chuyến trực thăng cuối cùng bước xuống sân chiến hạm chỉ huy "Blue Ridge" sau một ngày dài nhất và buồn bă nhất của đời tôị Tôi cũng là người Mỹ cuối cùng rời khỏi Ṭa Đại Sứ ở Đại lộ Thống Nhất Saigon, rời Saigon, rời VN thân yêu, một xứ sở tôi từng tha thiết phục vụ với bao cảm mến nhiệt t́nh.

 

     Tôi nh́n lại lần chót Saigon với niềm tiếc thương vô hạn qua làn kính lờ mờ khi trời vừa rạng đông. Saigon như đang khoắc khoải với bao nỗi kinh hoàng đang ŕnh rập sau lưng. Thế là hết. Vĩnh biệt Saigon nhé ! Tôi tự hỏi ḿnh không biết có nên thốt ra câu :"Hẹn ngày tái ngộ" hay không ?

 

     Cách đây mấy năm, tôi đă trở lại Saigon cốt để thăm lại nơi tôi làm việc. Trống vốc ! Và tấm gỗ ép đă bị tháo gở. Cái mũ sắt và những bao cát vẫn c̣n trơ trơ nơi một góc trên sân thượng làm băi đáp cho trực thăng đă di tản biết bao nhiêu người và in dấu bao nhiêu người đă kẹt lại ! Bây giờ họ ở đâu ? Ngục tù cải tạo chăng ? Chết ở vùng kinh tế mới chăng ? Tôi thầm nghĩ :"Thật là bất hạnh cho Saigon đă rơi vào một tên chủ mới quá tồi tệ !".

 

     4 giờ sáng 29/4/75, tôi giật ḿnh choàng dậy sau những tiếng nổ ghê hồn tại Saigon. Tôi biết hồi kết cuộc của trận chiến dài nhất của Hoa Kỳ tại VN đă gần kề. Phải chăng bây giờ tôi đang nghe trận tấn công cuối cùng vào Saigon bắt đầu ?

 

     Tôi gọi điện thoại qua Ṭa Đại Sứ. Tôi được báo cáo phi trường Tân Sơn Nhất đang bị hỏa tiễn và đại pháo pháo kích nặng. Chắc chắn đây là phút dứt điểm. Nếu quả thật phi đạo không c̣n xử dụng được nữa, tất nhiên công cuộc di tản đă tiến hành từ mấy tuần qua đành phải đ́nh lại. Như thế có nghĩa là chính phủ Mỹ phải có những quyết định cứng rắn dứt khoát thật mau lẹ.

 

     Trời nóng và ẩm thấp, một khí hậu thật đặc biệt của Saigon. Tôi mặc vội chiếc quần chẽn và cái áo sơ-mi thể thao. Mấy ai đă biết được rằng đó là bộ đồ tôi đă mặc từ một tuần lễ nay hoặc có thể tôi sắp lên đài vô tuyến truyền h́nh trong nước chăng ? Năm 1991 khi đài BBC thu h́nh tôi tại Saigon, tôi cũng đă mặc bộ đồ xanh này mà tôi c̣n giữ măi đến bây giờ.

 

     Tôi rời pḥng ngủ theo lệ thường. Nhờ giác quan thứ sáu hướng dẫn, tôi trở lại lấy giấy thông hành, có lọ thuốc pḥng thân, thẻ tín dụng, sổ ghi địa chỉ và chiếc máy ảnh rồi cho tất cả vào một túi nhỏ. Tôi biết chắc hôm nay là ngày khốn đốn nhất, nhưng tôi không dám tự nghĩ là tôi sẽ không bao giờ trở lại ngôi biệt thự kiến trúc theo lối Pháp này nữa. Và tôi cũng không dám cho là 20 năm cố gắng của người Mỹ tại VN đă đem lại một nhục nhă ê chề.

 

     4 giờ rưỡi, tôi bước xuống cầu thang th́ thấy đèn ở pḥng ăn sáng như thường lệ đă dọn sẵn. 2 người giúp việc ở lại cũng nghe thấy tiếng nổ, họ tưởng tôi đến Ṭa Đại Sứ như mọi ngày nên vẫn ăn mặc chỉnh tề trong bộ thường phục trắng cổ truyền dành cho những người bồi pḥng hạng sang ở VN. 2 người đàn bà này đă phục dịch tôi hơn 3 năm naỵ C̣n người tài xế của tôi đă làm việc ở Ṭa Đại Sứ từ 12 năm quạ Họ muốn làm ǵ bây giờ ? Người đàn bà già trên 60 tuổi và nặng 45 kg nói rằng bà sẽ ở lại. CS không làm ǵ được bà. Người trẻ hơn muốn đi nhưng trước hết anh ta phải đi gom góp hết tất cả gia đ́nh anh hơn 36 (!) người. Vào giờ chót, anh đành phải ở lại v́ không kịp. Sau này, tôi được biết anh là một thuyền nhân vượt biên đến Đài Loan.

 

     Tôi cho bà giúp việc lớn tuổi tất cả số tiền mà tôi hiện có. Tôi khuyên bà ta nên ra di trưóc khi CS tới. Tôi nhờ bà ta coi sóc giùm con chó và con vẹt của tôị

 

     Ṭa Đại Sứ, các tin tức đều rất bất lợi cho tạa. Phi đạo Tân Sơn Nhất bị hư hỏng nặng. Các vận tải cơ không thể đáp được nữa. Trong những giờ đầu đă có nhiều sự lộn xộn về chính sách của Mỹ. Ngưng bắn chăng ? Liệu Kissinger có thuyết phục tài binh được Brezhnev chăng ? Chuẩn bị cho những tai hại sẽ xảy đến, chúng tôi bắt đầu báo động mọi nhân viên người Việt rằng sẽ di tản mọi người và phá hủy toàn bộ hồ sợ.

 

     Gần đúng ngọ, TT Ford ra lịnh đóng cửa Ṭa Đại Sứ và tất cả Mỹ kiều phải tức khắc rời VN vào buổi tối. Chiến thuật di tản bằng trực thăng vận đại nhất lịch sử đă bắt đầu diễn tiến. Có nhiều điều mơ hồ nhầm lẫn đă xảy ra, điển h́nh nhất là sự khác biệt về thời gian của các lịnh ban ra từ Hoa Thịnh Đốn trong những ngày đó. Đoàn trực thăng vận từ hạm đội ở biển Nam Hải đă bị trễ mất 3 tiếng. Sự mất mát về thời lượng này đă làm cho trực thăng cất cánh trễ và đă làm cho chúng tôi thực khổ tâm và tủi nhục v́ đă bỏ lại một số bạn bè thân yêu.

 

     Quyết định từ chính phủ Mỹ lan truyền rất nhanh như cháy rừng. Lúc xế chiều Toà Đại Sứ như một pháo đài kiên cố, nội bất xuất, ngoại bất nhập, chỉ trừ trực thăng là con đường độc đáo duy nhất mà thôị Trong đường phố Saigon, một đô thị có 5 triệu dân, t́nh trạng thật hỗn độn, tuyệt vọng và vô trật tự, vô chính phủ.

 

     Văn pḥng CIA vẫn c̣n hoạt động đều. Chúng tôi vẫn bắt liên lạc được các báo cáo từ các cộng sự viên bằng đài vô tuyến hay điện thoại. Chúng tôi biết mọi sự việc đang xảy ra và báo cáo lại trung ương, nhưng cũng không được chu đáo lắm. Vào xẩm tối, Hoa Thịnh Đốn bắt đầu lo ngại CS Bắc Việt có thể chiêm trung tâm Saigon và bắt giữ những người Mỹ đang ở trong Ṭa Đại Sứ. Trong lúc đó th́ những chiếc trực thăng lớn nhỏ lên xuống Ṭa Đại Sứ từng phút một ở một t́nh trạng phập phồng lo sợ những đột biến xảy ra.

 

     Đúng 4 giờ sáng ngày 30/4/75, giờ Saigon,TT Gerald Ford ra lịnh chấm dứt cuộc di tản. Từ đó trở đi chỉ có Mỹ kiều mới được bốc đi mà thôị Tổng Thống hạ lịnh Đại sứ Graham Martin phải cấp tốc lên chiếc trực thăng kế tiếp với bộ tham mưu c̣n lại. Và như vậy, chúng tôi ra đi bỏ lại hàng trăm người bạn VN ở băi dậu xe tại Ṭa Đại Sứ mà mấy giờ trước đó họ đă được hứa hẹn bốc đị Tôi nghĩ rằng đó là một hành động phản bội đầy nhục nhă. Cuối cùng chúng tôi uể oải leo lên sân thượng mái nhà Ṭa Đại Sứ, không ai nói với ai câu nào. V́ mỗi người biết ḿnh làm ǵ.

 

     Từ trên không trung nh́n xuống, đèn Saigon chậm răi tắt dần. Chúng tôi không thể biết được ǵ sắp xảy ra. Một giờ sau, tôi đặt chân lên chiến hạm chỉ huy "Blue Ridge" và rồi tôi chỉ có thể đánh một điện tín về cho gia đ́nh tôi vỏn vẹn có mấy gịng :"Em yêu dấu, rời Saigon bằng trực thăng. Bây giờ anh đă được an toàn trên một tàu chiến. Sẽ gặp lại em sớm".

 

     7 giờ sáng ngày 30/4/75, tôi t́m được một chỗ ngủ trong một pḥng trên tàu và tôi đặt lưng cố ngủ. Một ngày dài nhất và buồn thảm nhất đă trôi quạ Cộng tác của tôi tại Saigon đă chấm dứt. Và cũng chấm dứt luôn sự can thiệp của người Mỹ vào cuộc chiến VN vậy.